Đôi điều thắc mắc về cuộc chiến Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đất nước Việt Nam nằm liền kề với Trung Quốc, lại án ngữ con đường ra Biển Đông của Trung Quốc, nên từ bao nhiêu năm nay, chúng ta đã phải chống chọi với rất nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc.

Tôi không biết các nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam khi bắt tay với Trung cộng, có tính đến truyền thống bành trướng, và lịch sử xâm lược Việt Nam của các triều đại Trung Quốc hay không. Nhưng có vẻ như, họ không chuẩn bị nhiều cho cuộc chiến nổ ra vào ngày 17/2/1979.

Khi đó, tôi đang ở Hà Nội. Trước đó ít ngày, chúng tôi được nghe một ông ở Trung ương nói chuyện thời sự. Không có bất cứ nhận định nào là Trung Quốc có thể đánh Việt Nam. Một người quen của tôi kể lại, rằng chiều 16/2/1979, họ (cán bộ của tỉnh Hoàng Liên Sơn), còn được triệu tập nghe trung ương phổ biến tình hình thời sự tại Lào Cai. Trung ương nhận định Trung cộng sẽ không đánh Việt Nam. Khuya hôm đó, bác ấy đã phải quần đùi áo may ô (quần xà lỏn, áo thun 3 lỗ) chạy bộ dọc theo đường tàu hướng về xuôi để tránh bị lính Trung Quốc giết.

Rất nhiều câu chuyện cho thấy, lực lượng bộ đội chủ lực ở miền Bắc khi ấy rất mỏng. Hầu hết các nơi, chỉ có lực lượng dân quân chống chọi với hàng sư đoàn quân Trung cộng. Trước đó, quân đội Việt Nam đã tập trung đánh Campuchia. Cuộc chuyển quân từ Nam ra Bắc không rõ bắt đầu từ khi nào, nhưng khoảng tháng 8/1979 (tức là khoảng 5 tháng sau khi Đặng Tiểu Bình tuyên bố rút quân), tôi không tìm được phương tiện gì để đi từ Sài Gòn ra Hà Nội, vì hầu như tất cả các phương tiện đều được huy động để chuyển quân từ trong Nam ra miền Bắc.

Có vẻ như lãnh đạo của chúng ta khi ấy, một mặt vẫn tin rằng, chúng ta đã đánh thắng hai đế quốc lớn, nên không ai dám đánh chúng ta, mặt khác, vẫn có tư tưởng, rằng Ban lãnh đạo Trung Quốc cộng sản vẫn có tinh thần vô sản, nên sẽ không đánh “người anh em” của họ.

Nói về sự tàn bạo của chiến tranh, thì có lẽ cuộc chiến Trung cộng xâm lược Việt Nam thuộc loại tàn bạo nhất trong các cuộc chiến gần đây mà đất nước chúng ta trải qua. Những cuộc thảm sát người dân Việt Nam ở những nơi quân Trung cộng chiếm đóng được người dân nói đến rất nhiều. Gần như các cuộc thảm sát mang tính tận diệt, nhắm vào dân thường, bao gồm cả trẻ em và phụ nữ, xảy ra ở mọi nơi quân Trung cộng chiếm đóng, dù là rất ngắn ngày.

Người ta nói, chúng thảm sát dân để trả thù, vì lính của chúng bị giết nhiều quá. Những câu chuyện kể của những người trong cuộc cho thấy, với chiến thuật biển người, Trung cộng đã xua quân của họ vào chỗ chết. Cho đến khi những dân quân Việt Nam hết đạn, thì chúng tràn vô, dùng số đông để bắt và giết những dân quân Việt Nam. Tôi thì không nghĩ chúng trả thù cho đồng đội của chúng bị giết, vì chúng chủ động hi sinh quân lính. Chẳng qua, sự man rợ của chúng tiếp nối từ những man rợ của đám hồng vệ binh trong Cách mạng văn hóa hơn 10 năm trước.

Có nhiều ý kiến cho rằng, cuộc xâm lược của Trung cộng vào Việt Nam năm 1979 là cách để Trung cộng cứu vãn chế độ Khơ me đỏ. Điều này có lý. Ai cũng biết, Khơ me đỏ tồn tại dưới sự “chống lưng” của Trung cộng. Ngày 9/1/1979, Việt Nam đưa quân qua Campuchia đánh Khơ me đỏ. Chỉ sau 1 ngày, quân đội Việt Nam đã đánh đuổi quân Pol Pot sang đến biên giới Thái Lan.

Có nhiều ý kiến về việc này. Cá nhân tôi, cho đến bây giờ, tôi thấy việc tấn công qua Campuchia đánh Khơ me đỏ là cần thiết. Tuy nhiên, khi đã đập tan khả năng tấn công Việt Nam của chúng, bộ đội Việt Nam đã không rút quân về, mà lại lưu quân ở đó để hỗ trợ cho một chính quyền khác, với hi vọng Việt Nam có thể khống chế được chính quyền đó.

Chúng ta đã hi sinh bao nhiêu xương máu của bộ đội ta ở Campuchia, bao nhiêu người dân ở biên giới Việt – Trung đã bị tàn sát. Và bây giờ, cái chính quyền mà Việt Nam xây dựng bằng xương máu của người Việt Nam, đang đi theo Trung cộng, đang cho Trung cộng xây dựng căn cứ quân sự trên cái đất mà người Việt Nam đã đổ máu để lấy lại cho họ, để từ đó, Trung cộng có thể đánh chiếm Việt Nam từ phía Tây Nam.

Tôi đang tự hỏi, nếu hồi đó, bộ đội Việt Nam rút về sau khi đánh tan khả năng tấn công Việt Nam của Khơ me đỏ, cứ để cho họ tiếp tục tàn sát nhau, thì chúng ta có phải hứng chịu những đau thương, mất mát suốt bao nhiêu năm sau đó không?

BS Võ Xuân Sơn

Nguồn: FB Xuân Sơn Võ

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…