Hợp tác xã đội mồ sống lại?

Trần Quốc Vượng, Thường trực Ban Bí thư đảng CSVN. phát biểu trong hội nghị về công tác tổ chức xây dựng đảng hôm 25/12/2019. Ảnh: VTC News
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trong thời chiến tranh, bộ máy tuyên truyền của Miền Bắc luôn luôn nhấn mạnh đến điều mà họ cho là chân lý: nền kinh tế Miền Nam phát triển theo đường lối tư bản chủ nghĩa là một nền kinh tế bóc lột người dân thậm tệ. Sự tích luỹ tư bản cũng như công cụ sản xuất vào tay một số ít chủ nhân, tước đi quyền “làm chủ tập thể” của người dân mà bí thư Lê Duẩn cho là 1 trong 3 phát kiến vĩ đại của nhân loại.

Chân lý ấy bao trùm trên toàn bộ suy nghĩ của lãnh đạo cộng sản thời bấy giờ. Vì thế, năm 1975, sau khi chiếm được Miền Nam bằng một cuộc chiến tranh bạo lực với sự dàn xếp của các cường lực nước ngoài, Bắc Việt Cộng Sản lập tức đạp đổ toàn bộ nền “kinh tế bóc lột” Miền Nam đang ngược chiều với nền kinh tế ưu việt xã hội chủ nghĩa mà họ đang xây dựng ở Miền Bắc.

Hệ thống mậu dịch quốc doanh được áp dụng trên toàn thành thị mới chiếm được. Người dân Miền Nam ngỡ ngàng nhận ra đời sống xã hội sụp đổ cùng với sự sụp đổ của nền móng phát triển quốc gia, dù mới phôi thai nhưng hứa hẹn một tương lai tươi sáng bền vững.

Khi hệ thống sản xuất và phân phối của Miền Nam lọt vào tay người chủ mới, người dân bắt đầu làm quen với hình thức tổ chức của hệ thống hợp tác xã thương nghiệp. Nghĩa là làm quen với tem phiếu thực phẩm, cuốn sổ mua hàng phân phối từng cây kim sợi chỉ, từng lít dầu thắp đèn, từng gram thịt, từng kg gạo theo tiêu chuẩn mỗi loại con người.

Điều chua chát hơn hết, trong khi chật vật trở lại với đời sống cách đó nửa thế kỷ, người ta buộc phải nghe, phải học tập nhà nước mới rằng đó là một xã hội hoàn hảo nhất do chủ nghĩa cộng sản mang lại.

Ở nông thôn, hợp tác xã nông nghiệp mọc lên như nấm dại. Người nông dân ngậm ngùi mang ruộng đất của mình ký thác vào tay các cán bộ cộng sản để trở thành một bộ phận được xưng tụng là những ông chủ mới của nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến nhất loài người.

Bởi vì, theo lời giải thích đầy hào hứng của cán bộ nông nghiệp, từ đây nông dân mới thực sự làm chủ. Trước đây làm chủ một vài ha ruộng đất, bây giờ vì là thành viên nên làm chủ hàng trăm ha ruộng của hợp tác xã: làm chủ tập thể. Nhưng không bao lâu sau, người nông dân càng cay đắng khi được chia công điểm từng bó rơm, kí-lô lúa theo kiểu Miền Bắc xã hội chủ nghĩa mang vào.

Sự thất bại của một mô hình không được báo trước nhưng sự lặng lẽ tẩy chay của người dân thành thị đã đem đến một chiến thắng chung cuộc vào khoảng năm 1990 khi thương nghiệp hợp tác xã chính thức giải thể. Ở nông thôn, người nông dân phản ứng bằng cách bỏ ruộng, tự biến mình thành giai cấp công nhân vô sản, đẩy xã hội đi đến chỗ tan rã thiếu đói.

Nhưng một lần nữa kinh tế thị trường lại xuất hiện như một vị cứu tinh, đẩy lùi thời kỳ bao cấp vào bóng tối. Cho đến nay những thành tựu của kinh tế thị trường là không thể chối cãi, dù cho nó có được cố gắng trang trí bằng cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Ngày nay không có mấy ai dám thừa nhận những thành tựu ấy là do chủ nghĩa xã hội mang lại, ngoài lời tuyên bố hùng hồn của các lãnh đạo Hà Nội trong các buổi lễ lớn hàng năm.

Người ta tưởng cái quá khứ nhục nhã và đau buồn ấy vĩnh viễn là đống tro tàn của một thời sai lầm trong quá khứ. Nhưng mới đây, cái quá khứ ô nhục ấy được thường trực Ban Bí Thư Trần Quốc Vượng dũng cảm khơi dậy khi ký ban hành “Kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá 9” đề cập về việc phải tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả của kinh tế tập thể.

Theo đó, Bộ Chính Trị tiếp tục khẳng định kinh tế tập thể, hợp tác xã có vị trí và vai trò quan trọng trong kinh tế đất nước. Và quan trọng hơn hết, phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác xã là “xu thế tất yếu” và là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Nó phải được đem ra giảng dạy trong các học viện chính trị và trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Những lời lẽ dao to búa lớn ấy đã khiến cho dư luận quá đổi ngạc nhiên. Vì không ai có thể tưởng tượng được mô hình phản tiến bộ ấy lại được đảng CSVN đề cao, tiếp tục nuôi dưỡng, phát triển như một thứ của quý trong giai đoạn hiện nay. Nó vừa cho thấy một sự thật hiển nhiên là đảng CSVN bất chấp sự sai lầm trong quá khứ, ra sức trì kéo hệ thống kinh tế đất nước vừa được vực dậy nhờ vào đồng tiền của tư bản.

Mặt khác qua thường trực Ban Bí Thư Trần Quốc Vượng, dư luận quần chúng cũng thấy rất rõ đất nước đang bị dẫn dắt bởi những người cộng sản não bộ xơ cứng, tiếp tục dùng chủ thuyết Mác-Lê ru ngủ quần chúng và tự ru ngủ.

Trong khi những người sáng suốt nhất ở Việt Nam đã sớm nhìn thấy cộng sản không phải là mô hình duy nhất để phát triển đất nước vì bản chất độc tài của nó, thì những lãnh đạo cộng sản thời nay không ngần ngại tôn sùng lý thuyết Mác-Lê như chân lý bất biến. Họ cố tình không muốn thấy chân lý ấy đã hoàn toàn thất bại ở Liên Xô năm 1991 và mô hình kinh tế chỉ huy ở Việt Nam đã rệu rã khi hệ thống hợp tác xã thương nghiệp lẫn nông nghiệp buộc phải giải thể, dù có tái hiện dưới cái tên mỹ miều “Liên Minh Hợp Tác Xã” gì đó.

Có thể kết luận, nếu chấp nhận kinh tế tập thể và kinh tế hợp tác xã là xu thế phát triển tất yếu như Bộ Chính Trị chỉ đạo, người ta không thể không chấp nhận sự sụp đổ của đảng cũng là tất yếu trong tương lai bất định của nó.

Phạm Nhật Bình

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Nhận định của chủ tịch Đảng Việt Tân về tình trạng đấu đá trên thượng tầng lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam

Chỉ trong vòng hai năm, 6 người trong Bộ Chính trị, cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng CSVN bị kỷ luật và buộc phải từ chức trong số 18 người ủy viên – chiếm 33%, cho thấy là chưa có nhiệm kỳ nào mà sự xung đột quyền lực lại xảy ra một cách gay gắt và lộ liễu như nhiệm kỳ 13. Hệ quả của sự xung đột này đang là sự trì trệ của bộ máy hành chánh và đang khiến cho tình hình kinh tế xã hội Việt Nam ngày càng suy thoái và hỗn loạn.

Hơn bao giờ hết, Việt Nam đang cần một sự thay đổi toàn diện.

Ông Phạm Minh Chính (trái) ôm chúc mừng ông Tô Lâm sau khi ông Tô Lâm tuyên thệ nhậm chức chủ tịch nước. Ảnh: Quốc hội via AP

Chính trường Việt Nam sau khi ông Tô Lâm rời Bộ Công an lên vị trí chủ tịch nước

Sau khi ông Tô Lâm đăng quang vị trí chủ tịch nước của Việt Nam, mọi cặp mắt của các nhà quan sát chính trị Việt Nam đều đổ dồn vào vị trí khác: Tổng bí thư. Đây chỉ là vị trí cao nhất của một tổ chức đảng, nhưng theo Hiến pháp 2013 hiện hành thì đó là nguyên thủ quốc gia trên thực tế, là vị trí nắm thực quyền đối với mọi vấn đề trọng yếu của đất nước.

Ảnh chụp bài báo Dân Trí

Thầy cô, cha mẹ hay con buôn?

Với tôi, câu chuyện một cháu bé ngồi nhìn 31 bạn cháu cùng các cô vui vẻ ăn liên hoan chỉ vì mẹ cháu không đóng quỹ Phụ huynh, là thảm họa đáng sợ của văn hóa, của giáo dục và cao hơn nữa là của lương tâm con người. Bản thân việc tranh cãi đúng, sai của người lớn quanh mấy chục ngàn đồng, đặt cạnh sự tổn thương ghê gớm của một cháu bé 6 tuổi, cũng đã phản ánh về một sự suy đồi trầm trọng trong lối sống, lối nghĩ thực dụng hiện nay.

Cha con ông Hun Sen (trái) và ông Hun Manet, người là cựu thủ tướng và đương kim chủ tịch Thượng Viện Cambodia, người là đương kim thủ tướng, theo đuổi dự án kênh đào Phù Nam (Funan Techo) vì có sự tiếp tay của Trung Quốc. Ảnh minh họa: Tang Chhin Sothy/ AFP via Getty Images

Với kênh đào Phù Nam, Trung Quốc siết Việt Nam bằng thòng lọng Cambodia?

Viết trên Nikkei Asia ngày 23/5, ông Sam Rainsy (đồng sáng lập và quyền lãnh đạo đảng Cứu Quốc Cambodia, cựu bộ trưởng Tài Chính), chính trị gia Cambodia lưu vong, nhấn mạnh, yếu tố thương mại lẫn nông nghiệp dường như không phải là lý do thực sự khiến ông Hun Sen, cựu thủ tướng và là đương kim chủ tịch Thượng Viện Cambodia, và ông Hun Manet, đương kim thủ tướng, theo đuổi dự án kênh đào Phù Nam (Funan Techo).