Thị sát vụ bức tử làng Cự Đà

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Cự Đà là một làng cổ, theo sự phân loại của Pierre Gourou thì đây là làng ven sông. Làng Cự Đà nổi tiếng làm tương ngon đã thành thương hiệu từ lâu. Cự Đà nay còn có thêm nghề làm bánh đa và bột đao cũng rất được tiếng.

Cự Đà chỉ cách Hà Nội khoảng ngót 20 km, nhưng chỉ có 1 con đường độc đạo dẫn đến làng – đường dọc sông Nhuệ. Cự Đà nằm bên sông, dân cư bám lấy sông và bố trí theo hình xương cá. Con đường ấy, ngày xưa có thể đủ cho hai cỗ kiệu hoặc cỗ xe song mã, 2 chiếc xe hơi cổ tránh nhau. Nhưng nay, con đường đã thành quá nhỏ.

Cự Đà là một làng độc đáo lắm!Ngay từ những năm đầu thế kỷ 20, làng đã có nhiều người tài giỏi đi buôn bán và làm cho Tây ở khắp trong nước và số người làm ăn, định cư ở Châu Âu rất đông. Những người dân làng Cự Đà xa quê, nhớ quê nên mỗi khi hồi hương hoặc thăm quê đều muốn đóng góp cho làng. Những người làng làm ăn ở Pháp và các nước Châu Âu họp bàn với nhau quyết xây dựng làng mình, quê mình thành một làng “thu nhỏ cả Châu Âu lại”. Họ về làng và đặt máy phát điện, khiến Cự Đà là làng đầu tiên ở nước Việt Nam có điện thắp sáng, ngay từ những năm thập kỷ đầu tk 20. Họ xây hàng trăm ngôi nhà theo lối biệt thự châu Âu, Pháp ngay trong làng. Và ngay từ những năm đầu của thập kỷ 20 của thế kỷ 20, làng Cự Đà đã được đánh số nhà và đây là làng đầu tiên được đánh số nhà.

Năm 1929, một cột cờ được dựng lên, làm cái tiêu cho thuyền bè buôn bán trên sông Nhuệ biết điểm để buông neo. Khi ấy, bến sông Nhuệ ở Cự Đà là nơi buôn bán nhộn nhịp sầm uất. Thuyền bè tấp nập ngày và đêm, đến nỗi, sợ đêm tối thuyền bè có thể đi qua Cự Đà lỡ quên không ghé bến, dân làng Cự Đà đã dựng ở hai đầu làng, áp sát sông hai cột đá, trên có con cóc đá, lưng cóc đội một cây đèn để làm giang đăng cho các thuyền bè nhận lối, biết cữ mà cập bến. Nay, hai con cóc đó vẫn còn…

Mới cách đây ngót 20 năm (1994), thi sĩ Hoài Yên viết “Chiều Sông Nhuệ”: “Sông Nhuệ chiều như thơ mông hơn/Trời in đáy nước lộng hoàng hôn“. Đẹp quá! Vậy mà nay, dù sông vẫn còn chảy lờ đờ nhưng nước thì thối quá, dòng nước đen ngòm, trông xa như một con quái vật đang trườn giữa khu dân cư. Lỡ mà cô Anh Thơ, cô Minh Phương nghe theo bác Nguyễn Trọng Tạo mà “úp mặt vào sông quê” thì có mà toi đời!

Nhân ngày nghỉ cuối tuần mới đây, mấy blogger bọn tôi rủ nhau đi thị sát Cự Đà, vì được biết, dân làng Cự Đà đã tự bức tử làng mình, bán nhà cổ, cơi nới, tàn phá biệt thự. Dân Cự Đà hôm nay nghèo khổ và lạc hâu, tối tăm hơn cha ông họ cách đây 100 năm trước. Báo Đảng cũng đã có 2 bài nói về chuyện này:

Bài 1: Nỗi buồn làng cổ trước cơn lốc xây dựng mới.

Bài 2: Thấy “chết” mà không thể cứu.

Nữ ký giả Hồng Minh viết hai bài này cho biết, cô viết mà lòng buồn rười rượi. Cô biết là không làm gì được và cũng không ai cứu được Cự Đà và bài viết của cô như là cái điếu văn cho một ngôi làng cổ.

Đoàn thị sát gồm các anh Nguyễn Trọng Tạo, Đinh Hoàng Thắng, Mai Thanh Hải và Lâm Khang tôi. Dưới đây là một vài hình ảnh của chuyến đi. Ảnh do Mai Thanh Hải chụp (Nguyễn Xuân Diện đã mua đứt).

JPEG - 69.4 kb
Những ngôi nhà xây theo lối Tây ở Cự Đà có thể kể đến hàng trăm…

JPEG - 54.3 kb
Hai bác Nguyễn Trọng Tạo – Đinh Hoàng Thắng

JPEG - 48.2 kb
Nguyễn Trọng Tạo – Mai Thanh Hải

JPEG - 44.5 kb
Cô bán hàng ở làng Cự Đà, mặn mà và phúc hậu

JPEG - 63.5 kb

JPEG - 50.2 kb

JPEG - 65.7 kb

JPEG - 64.3 kb
Hình như tòa nhà này có gắn 1 viên ngọc bích khổng lồ…

JPEG - 63.5 kb

JPEG - 55.8 kb
Nguyễn Xuân Diện đang thuyết minh về hai con cóc đá ở làng Cự Đà

JPEG - 73.1 kb
Bốn mặt của trụ đá đều khắc chữ Nho. Bốn chữ ở mặt ngoài là Vạn Cổ Nghiễm Nhiên (muôn thưở đứng trang nghiêm)

JPEG - 73.7 kb
Cổng “Trung Tín” giờ không còn thích hợp với công nông và xe cộ rầm rập ngày đêm

JPEG - 74.4 kb

JPEG - 64.4 kb

JPEG - 65 kb
Giếng chùa xưa, giờ thành nơi đầy rác

JPEG - 71.6 kb

JPEG - 81.3 kb
Đục cổng, hạ mui xe mà chui qua cổng

JPEG - 98.3 kb
Cột cờ xây năm 1929, từ xa hàng chục km còn trông thấy…vào năm 1929

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”