Tưởng Kinh Quốc và sự mở đường cho tiến trình dân chủ Đài Loan

Cố Tổng thống Đài Loan Tưởng Kinh Quốc (trái) và Tưởng Giới Thạch. Ảnh: Internet
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

(Bài viết nhân ngày mất của Tưởng Kinh Quốc, 13/1/1988 – 13/1/2019)

Tháng 3 năm 1978, Tưởng Kinh Quốc, con trai của Tưởng Giới Thạch và lúc đó là thủ tướng của Trung Hoa Dân Quốc được Quốc hội bầu làm tổng thống. Ông tại vị cho đến năm 1988, với 2 nhiệm kỳ kéo dài 10 năm.

Trong 10 năm làm tổng thống, Tưởng Kinh Quốc gần như duy trì các chính sách được thiết lập bởi Quốc Dân Đảng hết 8 năm đầu. Riêng trong 2 năm cuối, ông đã thực hiện các cải cách chính trị mang tính bước ngoặt, làm tiền đề cho tiến trình dân chủ Đài Loan.

Thời điểm đánh dấu các cải cách chính trị đáng kể đầu tiên là tháng 3 năm 1986. Tưởng Kinh Quốc khi ấy đã chỉ định một ủy ban gồm 12 người để xây dựng kế hoạch dỡ bỏ thiết quân luật, hợp pháp hóa các chính đảng mới và thực hiện các cải cách chính trị quan trọng khác.[1]

Tháng 5 năm 1986, lần đầu tiên kể từ năm 1947, các cuộc đàm phán được tổ chức giữa Quốc Dân Đảng và một phe đối lập, đó là Hiệp hội nghiên cứu ngoài đảng về chính sách công (Tangwai Research Association for Public Policy, TRAFPP). Mặc dù TRAFPP là bất hợp pháp, song việc Quốc Dân Đảng công nhận sự tồn tại của nó về mặt chính trị trên thực tế là bước quan trọng hướng tới dân chủ.[2]

Tháng 9 năm 1986, tiếp tục lấn tới để tăng cường vị thế chính trị trước sự nhượng bộ của Quốc Dân Đảng, các nhà lãnh đạo của TRAFPP đã thành lập Đảng Dân Tiến. Bất chấp các khuyến nghị của chính Quốc Dân Đảng rằng cần giải tán đảng này và bắt giữ các lãnh đạo của nó, Tưởng Kinh Quốc đã để nó hoạt động.

Ngày 06/12/1986, trong cuộc bầu cử Quốc hội, Đảng Dân Tiến ra tranh cử, 11 người của nhóm Chu Thanh Ngọc trúng tuyển vào Quốc hội, 12 người của nhóm Khang Ninh Trường trúng tuyển vào Viện Lập pháp. Quốc Dân Đảng tuy không thất bại song thu được số phiếu thấp hơn dự kiến và thấp nhất từ trước cho đến bấy giờ (thực tế chỉ 69,87% so với dự kiến hơn 70%).[3]

Ngày 17/12/1986, Tưởng Kinh Quốc chỉ thị nhóm nghiên cứu Luật An ninh Quốc gia với nguyên tắc giảm sự khống chế đến mức thấp nhất đối với nhân dân.[4]

Ngày 18/01/1987, Quốc Dân Đảng tiếp nhận yêu cầu của Đảng Dân Tiến, theo đó, đảng đoàn Ủy viên Lập pháp của Đảng Dân Tiến được lập một văn phòng tại Viện Lập pháp để có chỗ làm việc. Chế độ hai đảng bắt đầu xuất hiện trong Quốc hội của chính quyền Đài Loan.[5]

Ngày 20/01/1987, các tù nhân chính trị trong sự kiện Cao Hùng – vốn là cuộc đối đầu bạo lực vào cuối năm 1979 giữa chính phủ và những người ngoài đảng, trong đó có các thành viên của các tổ chức phản đối độc đảng, đòi hỏi dân chủ – được tha trước thời hạn.[6]

Ngày 05/02/1987, Viện trưởng Hành chính Du Quốc Hoa chỉ thị các cơ quan hữu quan nghiên cứu lại vấn đề đăng ký và tăng số trang đối với báo chí. Động thái này cho thấy chính quyền của Tưởng Kinh Quốc muốn chấm dứt chế độ cấm báo chí trong hơn 30 năm qua.[7]

Ngày 21/02/1987, lệnh cấm đối với tổ chức tôn giáo Nhất Quán Đạo được thu hồi. Các tín đồ Tân Ước trước đây bị coi là “tà giáo” nay được phép đến nhà thờ của họ để lễ bái tự do.[8]

Làn gió đổi mới của cải cách cũng thổi vào các trường trung học và đại học. Các báo của sinh viên trước đây bị kiểm duyệt bởi ban huấn đạo nay có thể được kiểm duyệt bởi các giáo sư do sinh viên lựa chọn. Một số cấm đoán trong trường đối với sinh viên nay cũng được thào dỡ.[9]

Ngày 14/07/1987, Tưởng Kinh Quốc tuyên bố dỡ bỏ thiết quân luật sau 38 năm tồn tại của luật này. Ba tháng sau, Thường vụ Trung ương Quốc Dân Đảng thông qua nghị quyết cho phép người dân viếng thăm gia đình ở đại lục, kết thúc thời gian cách biệt với đại lục cũng ngần ấy năm.[10]

Cũng trong năm 1987, Tưởng Kinh Quốc đã bổ nhiệm Phó Tổng thống Lý Đăng Huy, một người Đài Loan bản địa, làm chủ tịch Quốc Dân Đảng và chỉ định ông làm tổng thống kế nhiệm, chấm dứt chế độ gia đình trị và phe nhóm trị, cho dù điều này bị Quốc Dân Đảng phản đối.[11]

Ngày 13/01/1988, Tưởng Kinh Quốc qua đời, để lại niềm tiếc thương cho nhiều người và cả các đảng phái đối lập. Kế thừa các tiền đề được tạo dựng bởi Tưởng Kinh Quốc, Lý Đăng Huy lên làm tổng thống và thực hiện các cải cách tiếp theo khiến tiến trình dân chủ đi xa hơn.

Bên cạnh các cải cách chính trị, các thành tựu kinh tế thời Tưởng Kinh Quốc có tác dụng bổ trợ cho tiến trình dân chủ Đài Loan. Trong những năm ông tại vị, kinh tế Đài Loan đã tăng trưởng ngoạn mục với tốc độ có khi lên tới hơn 14%. GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương năm 1980 đã là hơn 4.000 USD, và gấp đôi 8 năm sau đó.[12]

Theo thời gian, Đài Loan đã chuyển đổi thành công và êm thắm từ độc tài sang dân chủ mà không có các cuộc cách mạng lật đổ và trở thành một trong các quốc gia dân chủ nhất thế giới ngày nay xét về nhiều phương diện, như bầu cử minh bạch, báo chí tự do và xã hội dân sự phát triển.

Trong nhiều nhân tố thúc đẩy tiến trình dân chủ Đài Loan, vai trò của Tưởng Kinh Quốc, tuy chỉ thể hiện rõ nét trong hai năm cuối cầm quyền, song có ý nghĩa mở đường cho những đổi thay tích cực cho dân chủ về sau.

Khi đánh giá vai trò cá nhân của Tưởng Kinh Quốc, có quan điểm cho rằng chủ trương cải cách và dân chủ hóa của ông thể hiện mạnh mẽ ý chí và quyết tâm của ông, với tư cách là người đứng đầu, trước các xu hướng bất đồng và chống đối.

Dù còn những tranh cãi rằng Tưởng Kinh Quốc liệu thực hiện các cải cách là vì lợi ích của quốc gia hơn là lợi ích đảng phái, hay ngược lại, vì lợi ích đảng phái hơn là lợi ích quốc gia, thì có lẽ câu trả lời không quá quan trọng, vì điều quan trọng thực sự là kết quả có hậu của các cải cách đó đối với tiến trình dân chủ Đài Loan.

Nguyễn Trang Nhung

Chú thích:

[1][2] What Motivated the KMT in Taiwan’s Democratization?
https://www.ketagalanmedia.com/2017/09/30/what-motivated-kmt-taiwan-demo…

[3][4][5][6][7][8][9][10] Hoàng Gia Thụ, Đài Loan: Tiến trình hóa rồng

[11] Về đạo đức người cầm quyền trường hợp Park Chung-hee và Tưởng Kinh Quốc
http://vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/…

[12] GDP đầu người (PPP) của Đài Loan
https://www.indexmundi.com/taiwan/gdp_per_capita_(ppp).html

Nguồn: RFA

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”