Việt Nam đang trở thành bãi rác của Trung Quốc

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Tại hội thảo do Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương (CIEM) và Dự Án GIG của Cơ quan Phát Triển Quốc Tế Hoa Kỳ (USAID) tổ chức hôm 11 Tháng Sáu, ông Nguyễn Năng Toản, giám đốc Trung Tâm Logistics – Tổng Công Ty Tân Cảng Sài Gòn, cho biết hiện nay Cảng Sài Gòn có gần 8,000 container rác thải và phế liệu dồn ứ. Tình trạng này khiến cảng Sài Gòn lâm vào tình trạng quá tải và đứng trước nguy cơ bị ô nhiễm môi trường toàn thành phố do rác thải độc hại.

Được biết, số rác thải trên xuất phát từ các nước phương Tây trên đường nhập về Trung Quốc, tuy nhiên việc tái chế rất tốn kém nên Trung Quốc đột ngột thay đổi chính sách, cấm nhập khẩu và đổ số rác này sang nước có cơ chế quản lý lỏng lẽo là Việt Nam. Sự việc này khiến không ít nhà hoạt động môi trường Việt Nam phẫn nộ. Điều đáng nói, thực trạng hàng hóa, rác thải Trung Quốc độc hại tràn ngập thị trường Việt Nam đã không còn là chuyện mới. Tuy nhiên mức độ đang ngày càng nghiêm trọng hơn, đầu độc sức khỏe người dân, phá hoại kinh tế và khiến Việt Nam đứng trước nguy cơ trở thành bãi thải của Trung Quốc.

Theo nhiều chuyên gia kinh tế, cái bẫy của thương mại tự do đang khiến Việt Nam dễ trở thành bãi phế thải các loại hàng hóa phẩm chất xấu của Trung Quốc. Mối họa nhập hàng hóa kém chất lượng từ Trung Quốc ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng như: gạo giả, sữa bột giả, trứng giả, trái cây nhuộm chất hóa học, dư lượng thuốc trừ sâu, thịt đông lạnh hư thối, rác thuốc đã lên nấm mốc… thậm chí các loại phụ gia gây ung thư cũng được bày bán khắp nơi, đầy rẫy ngoài chợ, thậm chí cả trong siêu thị. Những chất độc đó đang hàng ngày, hàng giờ hiện diện và gặm nhấm sức khỏe của người dân Việt Nam.

Không chỉ đưa thực phẩm bẩn, hàng hóa độc hại vào thị trường Việt Nam, Trung Quốc còn biến thị trường Việt Nam thành “sân sau’’ sản xuất hàng hóa có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Cụ thể, báo Thanh Niên dẫn thông tin từ Hiệp Hội Giấy và Bột Giấy cho biết, sau khi Trung Quốc tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực công nghiệp, trong đó có sản xuất giấy, nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã sang Việt Nam tìm cách liên doanh sản xuất bột giấy tái chế ngay trên đất Việt Nam. Lượng bột giấy “sạch” sau sản xuất sẽ cuộn, ép xuất cảng về Trung Quốc.

Mô hình này còn được nhân rộng sang các lĩnh vực khác như khai khoáng, luyện kim, sản xuất xi măng, dệt nhuộm, may mặc, chế biến cao su, đường cao tốc… Theo đó, công thức chung là những thành phẩm sạch sẽ được đưa về Trung Quốc, còn nhà máy, dây chuyền sản xuất và chất thải môi trường độc hại, bệnh tật thì người dân Việt Nam gánh chịu.

Một nguy cơ khác được nhiều chuyên gia cảnh báo đó là việc Trung Quốc đóng cửa 85 dự án điện than và 18 nhà máy bị ngừng cấp phép xây dựng, do lượng khí thải từ những nhà máy này gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thế nhưng ở Việt Nam, nhiều dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện than đa phần do Trung Quốc đầu tư lại được phê duyệt như: Trung tâm nhiệt điện Long An, nhà máy nhiệt điện Quảng trạch 1, 2, BOT nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2, dự án BOT nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn 2. Điều đó khiến dư luận lo ngại Trung Quốc sẽ di dời toàn bộ hệ thống nhà máy nhiệt điện không sử dụng sang cho Việt Nam dưới vỏ bọc đầu tư, biến Việt Nam trở thành bãi rác thải công nghệ lạc hậu, độc hại.

Thấy việc phát triển nhà máy nhiệt than phải trả cái giá quá đắt, nhiều nước trên thế giới gần như xóa sổ toàn bộ những nhà máy này. Thế nhưng ở Việt Nam những dự án đầu tư nhiệt điện than lại nở rộ. Phải chăng Việt Nam đang đi ngược lại với xu hướng của thời đại? Trong khi đó, theo nghiên cứu, số người chết yểu liên quan đến nhiệt điện than ở Việt Nam là 4.300 người mỗi năm. Tương lai, hàng loạt các nhà máy nhiệt điện than của Trung Quốc kéo sang thì không biết dân Việt Nam sẽ sống như thế nào.

Sự cảnh giác và lo ngại của người dân đối với các nhà máy nhiệt điện do Trung Quốc đầu tư là hoàn toàn có căn cứ. Thực tế là ở Việt Nam hiện đang có hàng loạt các nhà máy nhiệt điện gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Điển hình là nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1, 2, 3 gây ô nhiễm toàn bộ đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, các nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1, 2 hủy hoại môi trường không kém. Lạ một điều là tất cả các nhà máy trên do Trung Quốc xây dựng, thế nhưng dường như Việt Nam không lấy đó làm bài học thực tiễn.

Có thể nói, với lợi thế giá rẻ và không bị ràng buộc về mặt chất lượng cộng với sự tiếp tay của nhiều quan chức táng tận lương tâm của Việt Nam, nhiều mặt hàng “Made in China” đang được nhập về Việt Nam một cách thoải mái. Chính Việt Nam đã tự biến mình thành nơi tiêu thụ “thượng vàng hạ cám” của Trung Quốc. Trung Quốc thả sức tung hoành biến Việt Nam vốn đã lệ thuộc nay trở thành “sân sau” tiêu thụ hàng hóa, rác thải, phế liệu.

Việt Nam lâu nay đã trở thành nơi trung gian tiêu thụ hàng hóa cho Trung Quốc, điều mà lẽ ra có thể tránh được nếu chính quyền có các chính sách quản lý nhập khẩu rõ ràng. Sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc đang tạo ra 2 mối nguy hại lớn cho Việt Nam: trước hết đó là môi trường sống của hàng trăm triệu người Việt đang bị đe dọa bởi việc nhập cảng thiết bị, công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm cao từ Trung Quốc. Thứ hai là với việc nhập cảng thiết bị, công nghệ lạc hậu đang phá hoại nền kinh tế Việt Nam một cách âm ỉ và có hệ thống.

Để khắc phục tình trạng này, xây dựng một hàng rào kỹ thuật thương mại nghiêm ngặt là việc Việt Nam cần phải làm ngay, không thể chậm trễ. Bên cạnh đó, cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp thông qua những chính sách về hỗ trợ nghiên cứu công nghệ, đầu tư… Đồng thời, cần có chính sách để thoát khỏi “bẫy thương mại tự do,” nghĩa là Việt Nam không thể chỉ có thể dựa vào lợi thế lao động giá rẻ, mà phải nâng cao trình độ sản xuất của cả nền kinh tế thông qua lực lao động có chất xám và tay nghề cao.

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”