Việt Nam đến lúc lựa chọn

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Bài nhận định về quan hệ Việt – Mỹ của ông Hoàng Tứ Duy, Tổng Bí thư Đảng Việt Tân – đăng trên The Diplomat, 7/9/2023

Việc Hà Nội sắp nâng cấp quan hệ với Washington là bước đi đúng hướng. Bước tiến này cần được tiếp nối với việc bảo đảm các quyền tự do cơ bản cho người dân Việt Nam.

Khi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đến Hà Nội vào ngày 10 tháng 9, quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam có nhiều khả năng sẽ được nâng cấp lên “đối tác chiến lược toàn diện.” Theo các nguồn tin nội bộ, ban lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) đã quyết định nâng mối quan hệ song phương với Hoa Kỳ lên cấp cao nhất trong hệ thống ngoại giao của Việt Nam. Điều này đáng lẽ nên xảy ra sớm hơn.

Sự do dự của Hà Nội trong việc chính thức hóa mối quan hệ chiến lược với Washington là điều ai cũng biết. Các nhà quan sát từ lâu đã lưu ý rằng đảng Cộng Sản Việt Nam sợ xúc phạm Bắc Kinh và lo ngại rằng mối quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ có thể thúc đẩy “diễn biến hòa bình” khiến đảng cộng sản mất độc quyền cai trị. Vậy tại sao Hà Nội lại công khai nâng cấp quan hệ của Hoa Kỳ lên ngang hàng với các đối tác lịch sử Trung Quốc và Nga, nhảy qua cấp độ kế tiếp thấp hơn là “đối tác chiến lược”?

Một số nhà phân tích trước đây đã khen ngợi chiến lược “đu dây” của Hà Nội nhằm tạo ra sự cân bằng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Nhưng thực chất đây là một chiến lược nhằm bảo vệ ĐCSVN – một chiến lược cho phép họ vừa tiếp tục có được sự ủng hộ chính trị từ Bắc Kinh vừa thu hút được các lợi ích kinh tế và an ninh từ mối quan hệ với phương Tây.

Chiến lược này không được sự ủng hộ của đa số người dân Việt Nam, vốn có xu hướng ủng hộ Hoa Kỳ và chống Trung Quốc. Với tư cách là người đứng đầu nhà nước độc đảng, chính quyền cộng sản có thể bỏ qua dư luận nhưng không thể hoàn toàn không quan tâm đến ý chí của người dân. Hơn nữa, giới lãnh đạo đảng đã thừa nhận rằng không thể kéo dài hiện trạng và Việt Nam cần một chính sách đối ngoại cân xứng hơn, bớt nghiêng về Trung Quốc.

Sau Đài Loan, Việt Nam có lẽ là quốc gia đối diện với đe dọa nhiều nhất từ một Trung Quốc muốn thay đổi trật tự thế giới. Bắc Kinh tiếp tục khẳng định chủ quyền trên gần như toàn bộ Biển Đông, bao gồm các đảo mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền hoặc hiện đang nắm giữ, và phần lớn vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Đây là mối đe dọa nghiêm trọng đối với ngư dân và các mỏ dầu khí ngoài khơi của đất nước, chưa nói đến sự độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Ngoài an ninh, việc nâng cấp quan hệ với Washington có thể mang lại nhiều lợi ích và tiến bộ kinh tế hơn nữa. Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là điểm đến hàng đầu của các du học sinh Việt Nam. Nhiều thách thức hiện hữu của Việt Nam – từ vùng đồng bằng sông Cửu Long đang chìm dần đến xã hội dân sự kém phát triển – đòi hỏi những giải pháp táo bạo và sáng tạo. Mô hình Bắc Kinh khó có thể được xem là tốt nhất, trừ khi mục tiêu là duy trì quyền lực chính trị cho một thiểu số nhỏ. Trung Quốc cũng đang phải đối mặt với những khó khăn kinh tế nghiêm trọng có thể dẫn đến tình trạng trì trệ lâu dài.

Việc Nga xâm lược Ukraine đã khiến nhiều quốc gia ở cạnh một nước láng giềng hùng mạnh có những lựa chọn rõ ràng về chiến lược an ninh. Nhưng đối với Hà Nội, 18 tháng qua là một cơn lốc đầy lúng túng và nhiều do dự. Mỗi lần Việt Nam có cơ hội duy trì luật pháp quốc tế tại Liên Hiệp Quốc, các nhà ngoại giao của Việt Nam đều bỏ phiếu trắng cho các nghị quyết quan trọng lên án cuộc xâm lược của Nga. Giới lãnh đạo Hà Nội không muốn bày tỏ lập trường, mặc dù một thế giới mà các cường quốc lớn không thể đơn phương vẽ lại bản đồ để gây bất lợi cho các nước nhỏ là điều có lợi cho quốc gia Việt Nam. Trong một môi trường quốc tế đang thay đổi, Việt Nam ngày càng gặp khó khăn trong ứng xử.

Và vì vậy, chuyến thăm sắp tới của ông Biden là cơ hội để Việt Nam cập nhật quan hệ quốc tế cho phù hợp với tình hình quốc tế đang thay đổi. Cùng với “mối quan hệ đặc biệt” của Việt Nam với Cuba, Lào và Campuchia, các tiêu chí hiện nay về quan hệ đối tác “toàn diện,” “chiến lược” và “chiến lược toàn diện” đã trở nên hình thức và lỗi thời. Việc có “mối quan hệ chiến lược toàn diện” với Trung Quốc là điều đặc biệt phi lý, khi mà Trung Quốc vốn là mối đe dọa hiện hữu đối với Việt Nam.

Chắc chắn là Hà Nội sẽ tiếp tục xoa dịu Bắc Kinh và nhấn mạnh mối quan hệ giữa hai đảng “đồng chí, anh em” với đảng Cộng Sản Trung Quốc. Chỉ vài ngày trước khi Tổng thống Biden đến Việt Nam, báo chí Việt Nam đã ồn ào công bố chuyến công du tới biên giới Việt-Trung của Tổng bí thư đảng Cộng Sản Nguyễn Phú Trọng cùng với Đại sứ Trung Quốc Xiong Bo, nhấn mạnh mối quan hệ anh em. Và sau chuyến đi của Tổng thống Biden, Tập Cận Bình dự kiến sẽ có chuyến thăm cấp nhà nước tới Việt Nam.

Tuy nhiên, trong cuộc đấu giữa hai tầm nhìn Sáng kiến Vành đai và Con đường và “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và mở rộng,” thì nay đã rõ tương lai của Việt Nam phải nằm ở đâu. Đúng như ông Đặng Tiểu Bình đã từng nói: “Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng, miễn là bắt được chuột,” lãnh đạo Hà Nội cần định hướng lại chính sách đối ngoại của Việt Nam theo đuổi lợi ích chiến lược và toàn diện của đất nước.

Đối với Hoa Kỳ, quyết định lôi kéo Việt Nam là đúng. Với khối dân năng động và vị trí chiến lược, Việt Nam có tiềm năng trở thành thành viên vững mạnh trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á và là quốc gia đóng góp quan trọng cho một Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và mở rộng hơn. Nhưng Việt Nam có thể phát huy hết tiềm năng của mình hay không, không chỉ phụ thuộc vào cách đặt tên cho các mối quan hệ đối ngoại. Cuối cùng, những yếu tố bảo đảm tốt nhất cho một Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và mở rộng chính là các xã hội tự do và mở rộng.

Trong một năm mà Phần Lan từ chối “Phần Lan hóa” dưới sự chỉ đạo của Nga, thì Việt Nam chắc chắn có thể vượt ra khỏi những mô hình cũ kỹ và những hạn chế tự áp đặt của mình.

Ông Hoàng Tứ Duy là Tổng Bí thư Đảng Việt Tân, một tổ chức chính trị với chủ trương thúc đẩy dân chủ và canh tân Việt Nam.

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”