Washington phải chuẩn bị cho cuộc chiến với cả Nga và Trung Quốc

Tổng thống Nga Putin bắt tay Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Hội Nghị APEC 11/11/2014. Ảnh: Greg Baker/ AFP via Getty Images
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Phạm Nhật Bình lược dịch

GS Matthew Kroenig, Phó Giám Đốc Trung Tâm Scowcroft về Chiến Lược và An Ninh thuộc Atlantic Council, đã công bố bài viết “Washington phải chuẩn bị cho cuộc chiến với cả Nga và Trung Quốc” (Washington Must Prepare for War With Both Russia and China) đăng trên tạp chí Foreign Policy, ngày 18 tháng Hai, 2022.

Khi Nga đe dọa một cuộc xâm lăng trên đất liền lớn nhất ở Châu Âu kể từ Thế Chiến Thứ Hai, câu hỏi chiến lược của thế kỷ 21 đang trở nên rõ ràng: Làm thế nào Hoa Kỳ có thể đồng thời chế ngự hai cường quốc xét lại, chuyên quyền, vũ trang nguyên tử là Nga và Trung Quốc? Câu trả lời, theo nhiều chính trị gia và chuyên gia quốc phòng, là Washington phải tiết chế phản ứng với Nga ở Châu Âu để tập trung vào mối đe dọa lớn hơn do Trung Quốc gây ra ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Đây sẽ là một sai lầm.

Hoa Kỳ vẫn là cường quốc hàng đầu thế giới với các lợi ích toàn cầu, và nước này không thể đủ khả năng để lựa chọn giữa Châu Âu và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Thay vào đó, Washington và các đồng minh nên phát triển một chiến lược phòng thủ có khả năng răn đe và nếu cần, có thể đánh bại Nga và Trung Quốc cùng một lúc.

Trong những tuần gần đây, Biden đã gửi vài ngàn quân Mỹ đến tăng cường sườn phía đông của NATO, vì những lý do chính đáng. Một cuộc chiến lớn ở Ukraine có thể tràn qua các biên giới và đe dọa 7 đồng minh NATO có biên giới với Nga, Belarus và Ukraine. Hơn nữa, nếu Tổng Thống Nga Putin thành công ở Ukraine, tại sao ông ấy lại dừng lại ở đó?

Putin đã thể hiện sự quan tâm rõ ràng đến việc hồi sinh Đế chế Nga trước đây và các quốc gia Đông Âu dễ bị tổn thương khác – Ba Lan, Romania hoặc các nước Baltic – có thể là mục tiêu tiếp theo. Một cuộc xâm lăng thành công của Nga vào lãnh thổ của một đồng minh NATO có thể đồng nghĩa với việc chấm dứt liên minh phương Tây và sự tin cậy của các cam kết an ninh của Hoa Kỳ trên toàn cầu.

Mối đe dọa do Trung Quốc gây ra cũng rất nghiêm trọng. Đô Đốc Philip Davidson, cựu Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, dự đoán Trung Quốc có thể xâm lược Đài Loan trong vòng sáu năm tới. Đây là một cuộc chiến mà Hoa Kỳ có thể thua. Nếu Trung Quốc thành công trong việc chiếm Đài Loan, nước này sẽ thành công trong việc phá vỡ trật tự do Mỹ dẫn đầu ở Châu Á, với mục tiêu làm điều tương tự trên toàn cầu.

Hơn nữa, Nga và Trung Quốc đang ngày càng hợp tác với nhau nhiều hơn. Như hội nghị thượng đỉnh 4 tháng Hai vừa qua, giữa Putin và Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cho thấy, Moscow và Bắc Kinh đang thiết lập quan hệ đối tác chiến lược chặt chẽ hơn, bao gồm cả các vấn đề quân sự. Các nhà độc tài này có thể phối hợp các cuộc tấn công kép vào cấu trúc liên minh của Hoa Kỳ hoặc nắm bắt cơ hội dựa trên sự phân tâm do sự gây hấn của bên kia. Nói cách khác, có nguy cơ nghiêm trọng xảy ra đồng thời với các cuộc chiến tranh giữa các cường quốc ở cả Châu Âu và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Để giải quyết vấn đề này, nhiều người đã đề nghị các câu trả lời đơn giản là sẽ không hành động. Ban đầu, chính quyền Biden hy vọng đặt quan hệ với Nga trên một nền tảng “ổn định và có thể đoán trước được” để tập trung vào Trung Quốc. Nhưng Putin lại có ý tưởng khác, như thế giới đang thấy ở Ukraine. Thật không may, Washington không thể quyết định cách đối thủ của họ sắp xếp hành động gây hấn của họ ra sao.

Những người khác bày tỏ hy vọng rằng Washington có thể tách các cường quốc này ra hoặc thậm chí liên kết với Nga để chống lại Trung Quốc, nhưng đây không phải là những giải pháp thực tế.

Một quan điểm sai lầm đang được chấp nhận gần đây nhất là Washington chỉ nên chọn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thay vì Châu Âu. Các chính trị gia và chuyên gia cho rằng Hoa Kỳ thiếu nguồn lực để đối đầu với cả Nga và Trung Quốc. Họ chỉ ra sức mạnh của Trung Quốc và sự giàu có của Châu Á và cho rằng Châu Á nên là ưu tiên. Trong khi Washington xoay trục sang Châu Á, các quốc gia Châu Âu giàu có, chẳng hạn như Đức, nên tăng cường cung cấp khả năng  phòng thủ cho NATO. Trên thực tế, Chiến Lược Quốc Phòng của chính quyền Biden, vốn đã bị trì hoãn do cuộc khủng hoảng Ukraine, được cho là sẽ tập trung vào Trung Quốc mà không đưa ra giải pháp rõ ràng cho vấn đề chiến tranh hai mặt.

Tuy nhiên, một chiến lược tốt bắt đầu với những mục tiêu rõ ràng và mục tiêu của Washington là duy trì hòa bình và ổn định ở cả Châu Âu và Châu Á. Các lợi ích của Hoa Kỳ ở Châu Âu là quá quan trọng để có thể chỉ giải quyết chúng giữa Putin và các đồng minh Châu Âu của Hoa Kỳ. Thật vậy, Liên Minh Châu Âu, chứ không phải Châu Á, là đối tác thương mại và đầu tư lớn nhất của Hoa Kỳ.

Hơn nữa, Trung Quốc đã tiến hành các cuộc tập trận quân sự ở Châu Âu và Trung Đông. Cạnh tranh với Trung Quốc về mặt quân sự có nghĩa là cạnh tranh trên toàn cầu, không chỉ ở Châu Á. Ngoài ra, ông Tập đang đánh giá quyết tâm của Hoa Kỳ và phản ứng yếu ớt của Mỹ ở Ukraine có thể khiến Trung Quốc có quyết tâm tấn công Đài Loan nhiều hơn.

Hoa Kỳ không phải là Pháp nên không bắt buộc phải đưa ra những lựa chọn chiến lược khó khăn về an ninh quốc gia của mình do nguồn lực hạn chế. Nói tóm lại, việc công bố một chiến lược quốc phòng mà chỉ có thể đối phó với một trong những đối thủ cường quốc của Hoa Kỳ, chính là điều được mong đợi từ chiến lược phòng thủ quốc gia sắp tới, đang là kế họach thất bại.

Thay vào đó, Mỹ và các đồng minh phải thiết kế một chiến lược phòng thủ có khả năng răn đe và nếu cần, đánh bại cả Nga và Trung Quốc trong các khung thời gian chồng chéo. Chắc chắn, việc phát triển một chiến lược như vậy sẽ là một thách thức, nhưng có một số cách để bắt đầu xây dựng.

Đầu tiên, Washington nên tăng chi tiêu quốc phòng. Trái ngược với những người cho rằng nguồn lực hạn chế sẽ buộc phải lựa chọn khó khăn, Hoa Kỳ có thể đủ khả năng đối phó với Nga và Trung Quốc cùng lúc. Hoa Kỳ sở hữu 24 % GDP toàn cầu so với 19 % cộng lại từ Trung Quốc và Nga. Năm nay, Mỹ sẽ chi 778 tỷ USD cho quốc phòng so với chỉ 310 tỷ USD của Nga và Trung Quốc.

Hơn nữa, Hoa Kỳ có thể đi xa tới mức tăng gấp đôi chi tiêu quốc phòng (hiện là 2,8% GDP) và vẫn ở dưới mức trung bình thời Chiến Tranh Lạnh (gần 7% GDP). Thật vậy, do cuộc Chiến Tranh Lạnh mới này nguy hiểm không kém gì lần trước, nên việc gia tăng đáng kể chi tiêu quốc phòng, tập trung vào các công nghệ quốc phòng mới nổi của thế kỷ 21 là điều có thể xảy ra.

Ông Tập đang phá hoại mô hình tăng trưởng của Trung Quốc bằng cách đàn áp khu vực tư nhân và đẩy lùi các cải cách tự do hóa, và chính sách ngoại giao hiếu chiến của ông đang làm đảo lộn các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Kết quả là kinh tế Bắc Kinh bị đình trệ. Triển vọng kinh tế dài hạn của Nga thậm chí còn tồi tệ hơn. Nói tóm lại, ngay cả khi cuộc cạnh tranh chiến lược mới này trở thành cuộc chạy đua vũ trang hai chọi một, thì Washington vẫn có khả năng thắng thế.

Ngoài ra, Hoa Kỳ có thể tích cực dẫn dắt các đồng minh của mình ở Châu Âu và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương phát triển một chiến lược phòng thủ thế giới tự do. Hoa Kỳ và các đồng minh hiệp ước chính thức sở hữu gần 60% GDP toàn cầu. Cùng nhau, họ có thể dễ dàng điều phối các nguồn lực để duy trì sự cân bằng thuận lợi về sức mạnh quân sự đối với cả Trung Quốc và Nga. Việc hình thành các liên minh chính thức như NATO ở Châu Âu và các liên minh song phương ở Châu Á có thể được bổ túc bằng các thỏa thuận mới, chẳng hạn như Đối Thoại An Ninh Tứ Giác (Quadrilateral Security Dialogue – The QUAD, Bộ Tứ Úc – Ấn Độ – Nhật – Mỹ). 

Do đó, các đồng minh cần phải đẩy mạnh và làm nhiều hơn nữa để bảo vệ mình, nhưng họ sẽ không tự mình làm điều đó nếu Hoa Kỳ đe dọa rời khỏi Châu Âu. Thay vào đó, Washington nên chủ động dẫn đầu, chuyển từ mô hình mà Washington cung cấp khả năng phòng thủ cho các đồng minh sang một mô hình mà Washington đóng góp vào khả năng tự vệ của các đồng minh. Điều này bao gồm việc kết hợp các đồng minh chủ chốt vào việc lập kế hoạch quân sự, chia sẻ trách nhiệm và phân công hợp lý để mua vũ khí.

Các đồng minh Châu Âu nên đầu tư vào thiết giáp và pháo binh trong khi các đồng minh Châu Á mua thủy lôi, hỏa tiễn và tàu ngầm. Bộ binh Hoa Kỳ nên ưu tiên Châu Âu trong khi Hải Quân Hoa Kỳ chiếm Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Lực lượng Không Quân Hoa Kỳ lớn hơn đóng một vai trò quan trọng trong cả hai khu vực. Ngoài ra, Hoa Kỳ nên cung cấp các khả năng chiến lược như chiếc ô hạt nhân của mình; khả năng tấn công thông thường toàn cầu, bao gồm cả hỏa tiễn siêu thanh và tình báo, giám sát và trinh sát.

Cuối cùng, nếu cần, Washington luôn có thể lấy một trang trong cuốn sách về Chiến Tranh Lạnh của mình và dựa nhiều hơn vào vũ khí nguyên tử để bù đắp lợi thế cục bộ, thông thường của các đối thủ. Sự hiện diện của vũ khí nguyên tử chiến thuật của Mỹ ở Châu Âu đã giúp răn đe Hồng Quân Liên Xô trong nhiều thập kỷ. Tương tự, Hoa Kỳ có thể dựa vào việc đe dọa các cuộc tấn công nguyên tử phi chiến lược để răn đe và là phương án cuối cùng, ngăn chặn cuộc đổ bộ của Trung Quốc vào Đài Loan hoặc cuộc tấn công của xe tăng Nga vào Châu Âu.

Chắc chắn, có những rủi ro liên quan đến khả năng răn đe nguyên tử, nhưng vũ khí nguyên tử đã đóng một vai trò nền tảng trong chiến lược quốc phòng của Hoa Kỳ trong 3/4 thế kỷ vừa qua và có khả năng sẽ tiếp tục như vậy trong nhiều thập kỷ tới.

Việc răn đe Trung Quốc và Nga cùng một lúc sẽ không dễ dàng, nhưng tốt hơn là giả vờ rằng Washington có thể đối phó với một đối thủ cường quốc này hoặc đối thủ khác một cách thuận tiện. Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt đã không chọn chiến thắng ở một chiến trường  duy nhất trong Thế Chiến Thứ Hai. Biden nên làm theo tấm gương đó của mình và đồng thời lên kế hoạch bảo vệ lợi ích của Hoa Kỳ ở Châu Âu và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cùng một lúc.

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…