Lao động Việt Nam tại Đài Loan vẫn chịu gánh nặng tiền môi giới

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
MP3 - 5.1 Mb
Lm. Nguyễn Văn Hùng nói về tình hình lao động và Việt Nam tại Đài Loan

Hàng trăm ngàn công nhân Trung Quốc đã và đang được phép tràn vào thị trường lao động Việt Nam chiếm trọn các công trình xây dựng mà nhà cầm quyền hầu như luôn luôn cho các công ty Trung Quốc trúng thầu. Trong khi đó, hàng trăm ngàn công nhân Việt Nam phải lang thang tại các nước Đông Nam Á và lặn lội đến cả Trung Đông và Bắc Phi để kiếm việc trong tình cảnh vô cùng khó khăn và nhục nhã. Sau đây là phần phỏng vấn của RFI với Lm. Nguyễn Văn Hùng về tình trạng lao động và cô dâu Việt tại Đài Loan.
BBT-WebVT

– – –

Lao động Việt Nam tại Đài Loan vẫn chịu gánh nặng tiền môi giới

Trong bản báo cáo thường niên về tình hình buôn người trên thế giới, công bố ngày 20/06/2014, trong phần nói về Việt Nam, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã đặc biệt lưu ý về tình hình của người lao động Việt Nam ở nước ngoài, mà trong đó, nhiều người vẫn còn phải chịu gánh nặng tiền môi giới, như trường hợp của các lao động Việt Nam tại Đài Loan, thị trường xuất khẩu lao động lớn nhất của Việt Nam hiện nay.

Bản báo cáo của bộ Ngoại giao Mỹ viết:

“ Các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam, hầu hết là các đơn vị thành viên của các công ty nhà nước, và các cá nhân môi giới lao động trung gian không có giấy phép hoạt động, đôi khi đã bắt người lao động phải đóng những khoản phí vượt quá mức quy định của pháp luật để được đi xuất khẩu lao động. Kết quả là, người lao động Việt Nam phải gánh chịu những khoản nợ cao nhất trong số những lao động người châu Á, và họ rất dễ rơi vào cảnh bị cưỡng ép lao động, bao gồm việc phải làm công trừ nợ.

Sau khi đến nước tiếp nhận lao động, một số người mới nhận ra rằng họ bị bắt buộc phải làm việc trong những điều kiện tồi tàn, được trả lương rất ít hoặc không được trả lương, bất chấp những khoản nợ đang đè nặng trên vai, cũng như không được tiếp cận với kênh trợ giúp pháp lý đáng tin cậy nào. Một báo cáo của một tổ chức phi chính phủ năm 2013 cho thấy người lao động thường không được xem trước hợp đồng hoặc bị ép ký các hợp đồng được soạn thảo bằng những ngôn ngữ mà họ không hiểu. Các công ty tuyển dụng lao động xuất khẩu đôi khi không đáp ứng yêu cầu trợ giúp của người lao động khi họ bị bóc lột.”

Tờ Tuổi Trẻ ngày 22/05 vừa qua có báo động về tình trạng ngày càng nhiều lao động Việt Nam bỏ trốn ở Đài Loan, trung bình mỗi tháng có đến 600 lao động bỏ trốn ở nước này. Nguyên nhân của tình trạng đó chính là do các công ty môi giới Đài Loan kết hợp với các công ty xuất khẩu lao động Việt Nam làm ăn gian dối, kiểm soát từ khâu tuyển dụng đến khâu thu phí, bắt người lao động trả phí cao hơn nhiều so với mức quy định. Theo tố cáo của nhiều người lao động và điều tra của bộ Lao động Thương binh Xã hội Việt Nam, các công ty này thu phí từ 5.000 đôla đến gần 10.000 đôla/người, trong khi chi phí thực chỉ chưa đến 4.000 đôla/người.

Tình trạng bỏ trốn ngày càng nhiều như trên không những gây thiệt hại cho người lao động mà còn đẩy thị trường Đài Loan đến nguy cơ đóng cửa đối với Việt Nam do tỷ lệ lao động bất hợp pháp ngày càng tăng.

Trước tình trạng này, theo tờ Tuổi Trẻ, bộ Lao động Việt Nam đã thanh tra và xử lý hành chính hàng chục công ty xuất khẩu lao động sai phạm. Nhưng vấn đề là vào tháng 8 năm ngoái, chính phủ Hà Nội lại ban hành Nghị định 95 về “Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.”. Trong nghị định này có một điều khoản quy định phạt từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng đối với những lao động “ bỏ trốn khỏi nơi đang làm việc theo hợp đồng”, trong khi như ta đã thấy ở trên, nhiều lao động Việt Nam đã bỏ trốn bởi vì không chịu được cảnh làm việc gần như nô lệ, hậu quả của việc thu phí môi giới quá cao.

Không chỉ có lao động Việt Nam, mà nhiều phụ nữ Việt Nam lấy chồng Đài Loan nay cũng rơi vào tình trạng bất hợp pháp do không nhập được quốc tịch Đài Loan, mà lại không có tổ chức, đoàn thể nào đứng ra bảo vệ quyền lợi cho họ.

Để tìm hiểu thêm về tình hình của người lao động Việt Nam và cô dâu Việt ở Đài Loan, sau đây mời quý vị nghe phần phỏng vấn linh mục Nguyễn Văn Hùng, Giám đốc Trung tâm Trợ giúp Cô dâu và Lao động Việt Nam, trụ sở tại Đào Viên, Đài Loan:

Bấm vào đây để nghe cuộc phỏng vấn

Nguồn: RFI

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cơ quan quản lý cước phát thanh truyền hình GEZ, Đức. Ảnh: FB Tho Nguyen

Truyền thông độc lập (bài 2)

Sau 1945 người Đức coi truyền thông nhà nước là cái ổ tiềm ẩn cho chế độ độc tài. Khi xây dựng hiến pháp, bên cạnh việc phân chia đất nước theo thể chế liên bang, kiểm soát quyền lực bằng tam quyền phân lập người ta cũng xóa bỏ các đài phát thanh và truyền hình nhà nước, lập ra hệ thống phát thanh và truyền hình công cộng. Chính quyền từ địa phương đến liên bang bị cấm không được lập cơ quan truyền thông để tự tuyên truyền cho mình… Tư nhân vẫn có quyền làm báo, in ấn, lên sóng phát thanh, truyền hình, điện ảnh, sân khấu.

Ảnh minh họa: VNTB

Từ luật sư đến bác sĩ: Cải cách thủ tục hay gia tăng kiểm soát?

Nếu mục tiêu chỉ là cải cách thủ tục, tại sao phải trao thêm cho chủ tịch xã, trưởng Công an xã quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư – một thứ vốn do Bộ Tư pháp và các thiết chế chuyên môn giám sát?

Nếu mục tiêu chỉ là giảm tải cho Bộ Y tế, tại sao không củng cố các hội đồng y khoa độc lập, mà lại giao trọn quyền cấp, thu hồi giấy phép bác sĩ cho chủ tịch tỉnh?

Đó không còn là chuyện “rút ngắn quy trình,” mà là chuyện ai được cầm chìa khóa nơi vận hành cả hệ thống.

Nhân viên đài phát thanh Tiệp biểu tình phản đối việc nhà nước hóa truyền thông công cộng

Truyền thông độc lập (bài 1)

Trong tháng Hai 2026, chính phủ cánh hữu (Tiệp – nước Cộng hòa Séc) của Thủ tướng Babis đã quyết định: Từ 2027 các đài phát thanh truyền hình công cộng sẽ không sống vào tiền cước phí truyền hình do dân đóng, mà sẽ được cấp bởi ngân sách nhà nước, lấy từ tiền thuế.

Người Việt sẽ bảo: Thế thì sao lại phản đối? Dân sẽ đỡ phải đóng cước phí truyền thông, trong khi nhà đài vẫn được nhà nước chu cấp cơ mà?

Ngày càng nhiều người Việt Nam, Trung Quốc thuộc tầng lớp trung lưu hoặc giàu có tìm cách rời nước ra đi định cư ở các nước khác, mang theo hàng triệu đô la. Ảnh: AI

Tầng lớp trung lưu Việt Nam và Trung Quốc trước làn sóng tập quyền

Trong các hệ thống chính trị tập quyền, nỗi lo lắng không phân bổ đều cho tất cả mọi người. Người nghèo thường đã quen với sự bất định; giới tinh hoa chính trị thì có đủ quan hệ để tự bảo vệ. Nhưng tầng lớp ở giữa – những người đã tích lũy được tài sản, học vấn và vị thế xã hội nhờ vào một thời kỳ tăng trưởng kinh tế chưa từng có – lại đứng trước một nghịch lý đau đớn: Họ có đủ để mất, nhưng không đủ quyền để được bảo vệ.

Đây chính là tình trạng của tầng lớp trung lưu ở Việt Nam và Trung Quốc ngày nay…