Theo công bố mới đây của JETRO, trên 75% công ty sản xuất của Nhật Bản hiện đang hoạt động tại Việt Nam đã chọn Việt Nam là nơi sản xuất tốt nhất trong vòng 5-10 năm tới. Đây là một trong những kết quả của điều tra hàng năm về các công ty sản xuất của Nhật Bản, tại châu Á năm 2006, được Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) công bố ngày 30/5. Cuộc điều tra được tiến hành trong tháng 11 và tháng 12 năm 2006, với sự tham gia của trên 1.330 công ty sản xuất của Nhật Bản đang hoạt động tại 11 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam. Con số 75% cũng là tỷ lệ cao nhất mà một quốc gia được các nhà đầu tư Nhật Bản bình chọn, qua đó cho thấy mức độ hài lòng của họ về điều kiện kinh doanh tại Việt Nam.
Cũng theo kết quả điều tra này, Việt Nam là nước thứ hai ở châu Á, sau Ấn Độ và là nước đứng đầu trong khu vực ASEAN được các công ty sản xuất của Nhật kỳ vọng lợi nhuận năm 2007 sẽ được cải thiện hơn so với năm ngoái, với lý do là doanh thu xuất khẩu tăng và hiệu quả sản xuất được cải thiện. Tỷ lệ 82,4% các công ty sản xuất của Nhật có kế hoạch mở rộng kinh doanh ở Việt Nam cũng là con số khá cao so với mức trung bình 58,2% của khu vực. Hầu hết các công ty Nhật Bản đều đánh giá cao Việt Nam về sự ổn định chính trị xã hội. Việt Nam được coi là đặc biệt rẻ hơn Trung Quốc (một thị trường từng có lợi thế về chi phí rẻ) về chi phí lao động. Tại sao, môi trường kinh doanh ở Việt Nam được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao như vậy?
Tháng 10/2006, Luật sư Lê Thị Công Nhân, phát ngôn nhân đảng Thăng Tiến Việt Nam lên đường đi Ba Lan để tham dự một hội nghị Hội thảo Công đoàn Vac-sa-va 2006 do Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan và Ủy Ban Bảo Vệ Công Nhân Ba Lan cùng tổ chức với sụ bảo trợ của một số nhà lập pháp Ba Lan. Trong hội thảo này có mặt của các nhà hoạt động công đoàn không chỉ của Ba Lan, Việt Nam mà còn từ Hoa Kỳ và nhiều nước khác. Hội thảo này, được tổ chừc sau khi một số nhà hoạt động tại Việt Nam tuyên bố thành lập công đoàn độc lập với mục đích “bảo vệ quyền lợi cho công nhân”, có nội dung chính xoay quanh luật lao động tại Việt Nam và kinh nghiệm công đoàn nước ngoài, đặc biệt là Ba Lan. Được biết luật sư Lê Thị Công Nhân dự định mang tới hội thảo bản tham luận trong đó nói rõ luật lao động Việt Nam hiện thời không ủng hộ việc đình công, không bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và do vậy cần phải được cải tổ. Thế nhưng chuyến đi của, Luật sư Lê Thị Công Nhân không thành công vì đã bị công an chặn lại tại cửa khẩu Nội Bài.
Luật lao động Việt Nam không bảo vệ cho người lao động được Luật sư Lê Thị Công Nhân dự định trình bày tại Hội thảo Công đoàn Vac-sa-va 2006 chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Phía bên dưới còn ẩn chứa những sự việc khủng khiếp…
TỪ ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN BÁN MÌNH…
Ngày 02/3/2000, tại UBND tỉnh Phú Yên giữa UBND, ông Nguyễn Thành Quang- chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên làm đại diện cùng với Công ty TNHH Công Nghiệp Việt Nam (gọi tắt là KCP) tỉnh Thừa thiên Huế do ông V.Guruswamy (giám đốc ban điều hành) và ông B.Koteswara Rao (Tổng giám đốc) làm đại diện đã ký với nhau một bản Thỏa thuận: “KCP đề nghị tỉnh Phú Yên duy trì giá mía 160.000đ/tấn loại 10 chữ đường tại cổng nhà máy trong 5 năm đầu. KCP đã đề nghị tỉnh Phú Yên miễn tiền thuê đất trong thời gian ưu tiên giải quyết khó khăn cho đến khi Công ty có lãi; KCP đề nghị Chính phủ cho được hưởng miễn thuế giá trị gia tăng giống như các công ty đường khác của Nhà nước. Tỉnh Phú Yên sẽ không cho phép bất kỳ nhà máy đường nào khác thành lập tại tỉnh Phú Yên. Tất cả các nhà máy đường thủ công hiện nay sẽ không được phép hoạt động sau khi dự án của KCP đã được thiết lập tại Sơn Hòa”.
Sau khi KCP đi vào hoạt động sản xuất, nông dân ở huyện Sơn Hòa rất phấn khởi, dáo dỡ các che ép mía thủ công, bán mía cho nhà máy. Thế nhưng, sau 5 năm (2001-2005) bán mía cho KCP, đời sống của người nông dân ở đây không những chẳng được cải thiện mà còn lâm vào cảnh túng quẫn, nợ nần ngày càng chồng chất. Đến lúc này họ mới phát hiện được một thực tế hết sức phủ phàng: giá mía thu mua của KCP thấp hơn rất nhiều lần so với việc ép mía, chế biến đường thủ công. Đến mùa vụ năm 2004-2005, một số hộ khôi phục lại lò ép mía thủ công để tự sản xuất đường thô, mật gỉ bán ra thị trường tự do.
Ngay lập tức, KCP tạo sức ép với chính quyền địa phương. Ngày 23/2/2005, UBND huyện Sơn Hòa ra Quyết định số 163/QĐ-UB thành lập tổ công tác của huyện để giải quyết một số công việc liên quan đến hoạt động của các lò, che ép mía tại xã Sơn Hà và Sơn Nguyên… Và tổ công tác liên ngành của huyện phối hợp với đại diện chính quyền địa phương của xã tiến hành kiểm tra hàng loạt hoạt động các lò ép mía thủ công, để xử lý vi phạm hành chính với ra quyết định xử phạt và cưỡng chế. Cụ thể vào ngày 07/12/2005, UBND tỉnh Phú Yên đã ra Thông báo số 1213/TB-UBND kết luận của Phó chủ tịch UBND tỉnh Trần Thị Hà như sau: “UBND các huyện tập trung chỉ đạo kiên quyết không cho các che ép thủ công hoạt động ở những vùng nguyên liệu mía đã qui hoạch cho các nhà máy, không cho các cá nhân, tổ chức khác (cả trong tỉnh và ngoài tỉnh) vào mua mía trong vùng nguyên liệu đã qui hoạch cho nhà máy. Đối với những vùng nguyên liệu không nằm trong quy hoạch của các nhà máy thì bố trí cho che ép thủ công hoạt động dưới sự giám sát của chính quyền địa phương… UBND các xã và phòng công chứng huyện không được xác nhận các hợp đồng mua bán mía ký kết giữa người trồng mía với các đơn vị khác không được phân vùng nguyên liệu mía này”.
Tiếp theo, ngày 28/12/2005, Chủ tịch UBND tỉnh Đào Tấn Lộc ra Thông báo số 1322/TB-UBND kết luận: “Lãnh đạo tỉnh Phú Yên tiếp tục cam kết thực hiện bản thoả thuận đã ký kết giữa UBND tỉnh Phú yên với Cty KCP ngày 02/3/2000. để thực hiện bản thoả thuận này, UBND tỉnh Phú Yên giao trách nhiệm cho các cơ quan cụ thể là: “… Giao cho công an giao thông, quản lý thị trường và UBND các địa phương phối hợp có biện pháp phù hợp ngăn chặn, xử lý không cho bất cứ cá nhân, tổ chức khác (cả trong tỉnh và ngoài tỉnh) vào tranh mua mía trong vùng nguyên liệu đã qui hoạch cho công ty. 3/ Giao cho Sở Công nghiệp soạn thảo 1 văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh về quản lý che ép mía thủ công. Giảm thiểu tối đa che ép mía thủ công. Không cho che ép mía thủ công hoạt động mua mía trong vùng nguyên liệu đã giao cho công ty KCP; không cho che ép mía thủ công ngoài tỉnh vào hoạt động trên địa bàn tỉnh. 4/ Giao cho cục thuế tỉnh chủ trì phối hợp với các địa phương (huyện, xã) kiểm soát thu thuế đầy đủ, đúng pháp luật đối với hoạt động che ép mía thủ công và các cơ sở kết tinh đường thủ công (kể cả hộ trồng mía tự làm). 5/ Các địa phương qui hoạch cụ thể phạm vi cho phép che ép mía đường thủ công hoạt động. Quản lý chặt chẽ hoạt động che ép mía thủ công và kết tinh đường thủ công, xử lý nghiêm những che ép mía thủ công vi phạm quy định”.
…ĐẾN PHÓ THỦ TƯỚNG THƯỜNG TRỰC BÁN DÂN
Bắt đầu từ 1/6/2007, các cán bộ, viên chức, lao động trong toàn ngành GTVT phải đội mũ bảo hiểm khi đi môtô, xe máy, không phân biệt loại đường bộ. Đồng thời, phải gương mẫu vận động người thân chấp hành các qui định của pháp luật về trật tự an toàn giao thông, đội mũ bảo hiểm khi đi môtô, xe máy, không cho con em mình đi môtô, xe máy khi chưa đủ độ tuổi theo qui định. Trước đó, TP. Sài Gòn qui định không đội nón bảo hiểm sẽ bị phạt 90.000 đồng. Đây là điểm mới sửa đổi của Nghị định 52 về xử phạt khơng đội nón bảo hiểm (NBH) tại các tuyến đường bắt buộc mà Thượng tá Phạm Văn Thịnh, Trưởng phòng CSGT CA TP. Sài Gòn vừa cho biết tại hội thảo “Tuyên truyền đội NBH khi đi xe mơ tơ, xe máy” do Ban ATGT và UBMTTQ Thành Phố tổ chức vào sáng 22-3. Hình thức phạt bổ sung là tạm giữ phương tiện 3 ngày cũng sẽ được bãi bỏ.
Tại hội thảo, phần đông các ý kiến đều đồng tình với lợi ích của NBH trong khi tham gia giao thông và tăng mức xử phạt (có ý kiến đề nghị mức phạt từ 200.000 đồng đến 2 triệu đồng). Đây cũng là lần đầu tiên hội nghị CG bàn tới vấn đề an toàn giao thông. Báo cáo của Bộ Giao thông vận tải đưa ra những con số “khủng khiếp” nhưng không còn tính gây sốc đối với các đại biểu: trong quí 1 năm nay đã xảy ra 4.027 vụ tai nạn giao thông, làm chết 3.612 người, bị thương 3.222 người. Cả ba chỉ số này đều tăng đáng kể so với cùng kỳ năm 2006. 93% tổng số vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đường bộ; trong đó, thì tỷ lệ tai nạn do xe mô tô, gắn máy gây ra chiếm tỷ lệ đến 80%. Và các số liệu thống kê tại các bệnh viện lớn ở TP Sài Gòn và Hà Nội thì số người bị chết do chấn thương sọ não vì không đội nón bảo hiểm gia tăng đột biến.
Theo Ủy ban an toàn giao thông quốc gia thì tỷ lệ người chết do bị tai nạn giao thông sẽ giảm đến 90% nếu như người tham gia giao thông bằng xe gắn máy, mô tô đội nón bảo hiểm. Chính vì thế ngành giao thông vận tải Việt Nam đang bắt đầu cho một chiến dịch phát triển rầm rộ qui mô trên toàn quốc, về việc bắt buộc đội nón bảo hiểm khi xe mô tô, gắn máy. Thế nhưng, có một vấn đề hết sức đơn giản mà không thấy một quan chức trong ngành giao thông hay y tế quan tế quan tâm: nếu như người tham gia giao thông bằng xe ô tô sẽ không bị chấn thương sọ não khi tai nạn xảy ra?
Ở Việt Nam đang xảy ra một nghịch lý: mức thu nhập bình quân thì thấp nhất thế giới, nhưng giá xe ô tô thuộc loại đắt đỏ nhất thế giới. Xe ô tô ở Việt Nam được CSVN xếp vào loại “tiêu thụ đặt biệt” nên mức thuế đánh cao tuyệt đối với lý do: cơ sở hạ tầng Việt Nam chưa đủ điều kiện để cho xe ô tô lưu thông phổ biến. Thế nhưng trên thực tế, mức thuế tuyệt đối về nhập khẩu xe ô tô của CSVN nhằm bảo vệ sự độc quyền của các liên doanh sản xuất ô tô trong nước, tước bỏ quyền được đi ô tô của người dân Việt Nam có mức thu nhập trung bình, sinh mạng của người dân Việt Nam khi tham gia giao thông luôn phải đối diện với tình trạng nguy hiểm cao độ.
Sản xuất ô tô của các Công ty liên doanh trong nước tại Việt Nam là một ngành siêu lợi nhuận. Chất lượng xe ô tô rất kém (không đạt bất cứ một tiêu chuẩn xuất khẩu nào) nhưng lại bán cho người dân Việt Nam với mức giá cao nhất thế giới. Tất nhiên, phần lợi nhuận này không thể nào chảy vào túi riêng của các ông chủ công ty liên doanh mà phải có tỷ lệ “ăn chia” với các quan chức CSVN. Đến năm 2005, ông Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng (lúc đó là Bộ trưởng Bộ tài chính) bổng dưng ban hành sắc lệnh: “Cho nhập xe ô tô cũ đã qua sử dụng nhưng không qui định mức thuế suất là bao nhiêu”. Thế là người dân Việt Nam phấn khởi vì có thể mua được xe ô tô; còn các liên doanh sản xuất ô tô trong nước thì nhốn nháo, lâm vào tình trạng phá sản vì không cạnh tranh nổi với xe ô tô cũ đã qua sử dụng. Đùng một cái, các liên doanh sản xuất ô tô trong nước “vận động mạnh mẽ” nên Bộ tài chính đánh mức thuế tuyệt đối đến 600% cho xe ô tô cũ đã qua sử dụng.
Đến lúc này, người dân Việt Nam mới vỡ lẽ: ông phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng hù dọa cho nhập khẩu xe ô tô cũ đã qua sử dụng với nguyên nhân là chia chác tỷ lệ phần trăm lợi nhuận không được các quan chức CSVN hài lòng, nên mới sử dụng độc chiêu “rung chà, cá nhảy”. Hy vọng mua xe ô tô của người dân Việt Nam đã tan thành mây khói, quyền được đi ô tô của người dân Việt Nam tiếp tục bị tước bỏ, sinh mạng của người dân Việt Nam tiếp tục bị đe dọa khi tham gia giao thông. Không những thế, ông Tổng giám đốc Toyota Việt Nam còn “chơi xỏ” Chính phủ Việt Nam bằng cách cám ơn đăng trang quảng cáo trên báo Tuổi Trẻ với mức phí 20 triệu đồng.
Cô lập vùng nguyên liệu cho thương nhân Ấn Độ bóc lột người nông dân trồng mía thì UBND tỉnh Phú Yên đã nhẫn tâm bán mình; mức thuế suất tuyệt đối đánh vào xe ô tô của Chính quyền CSVN là chính sách tàn nhẫn, vô nhân đạo: đánh trực tiếp vào chính sinh mạng của người dân. Vì lợi nhuận, vì những đồng tiền bẩn mà CSVN bất chấp tất cả: bán đất, bán dân, bán luôn sinh mạng của người dân Việt Nam. Sống dưới chế độ cai trị độc tài của Đảng cộng sản, người dân Việt Nam chỉ là những nô lệ như trong thời kỳ tăm tối nhất của chế độ chiếm hữu nô lệ, bị tước đoạt quyền tự do, dân chủ. Hy vọng duy nhất cho người dân Việt Nam giành lấy quyền tự do dân chủ, giải phóng chính mình là phải làm một cuộc cách mạng triệt để, toàn diện để xóa bỏ ách thống trị độc tài của CSVN.
4-6-2007
Nguyên Hà (Hà Tây)
?