Sunday, June 15, 2008
Ðỗ Dzũng/Người Việt
Mặc dù rất bận rộn với công việc lập pháp, Dân Biểu Liên Bang Hoa Kỳ Chris Smith vẫn dành cho tôi một buổi gặp gỡ trong một ngày cuối tuần tại Washington D.C.
Hôm đó là Thứ Sáu, 6 Tháng Sáu, 2008, một ngày mà thông thường các dân biểu trở về địa hạt của mình để tiếp xúc cử tri, để tham dự các buổi lễ, nhất là trong năm nay, năm bầu cử nhiều chức vụ tại Hoa Kỳ, trong đó có cả chức vụ mà dân biểu này giữ 28 năm qua.
Dân Biểu Chris Smith đại diện Ðịa Hạt 4 của tiểu bang New Jersey, một vùng đất nằm giữa tiểu bang, kéo dài từ ranh giới tiểu bang Pennsylvania ra tới bờ biển Ðại Tây Dương.
Năm nay, vào ngày 4 Tháng Mười Một, 2008, ông sẽ ra tái ứng cử chức vụ này.
Dân Biểu Chris Smith nổi tiếng là một nhà lập pháp luôn đấu tranh cho nhân quyền trên khắp thế giới từ Liên Xô cũ, Romania, Cuba, Sudan, Trung Quốc đến Việt Nam.
Dân Biểu Smith từng đến Việt Nam bốn lần và gặp hầu hết các nhà bất đồng chính kiến cũng như những nhà đấu tranh cho nhân quyền và tự do tôn giáo tại đây.
Tại Hạ Viện Hoa Kỳ, Dân Biểu Chris Smith là đồng chủ tịch của nhiều nhóm dân biểu có cùng quan điểm về nhiều vấn đề như tệ nạn buôn người, chăm lo sức khỏe, cuộc sống và giáo dục. Ông cũng là đồng chủ tịch các nhóm dân biểu chuyên để ý đến các quốc gia như Việt Nam, Ba Lan, Bosnia và Uganda.
Ông là thành viên của 15 nhóm khác tại Hạ Viện chuyên chú trọng nhiều vấn đề khác như nhân quyền, năng lượng, môi trường biển, bảo vệ trẻ em… là tác giả nhiều nghị quyết và dự luật liên quan đến nhân quyền và từng đồng chủ tọa nhiều buổi điều trần về nhân quyền Việt Nam.
Khác với các dân biểu khác mà tôi từng gặp, thường để một nhân viên ra hướng dẫn vào, khi tôi tới, Dân Biểu Chris Smith bước ra ngay và bắt tay tôi, thật chặt và thân tình. Sau đó, chính ông đi rót một ly nước cho tôi và mời tôi vào phòng.
Trong phòng của ông rất nhiều vật lưu niệm. Ông đưa tôi xem một bức tượng xe thổ mộ có ngựa kéo bằng gỗ do Linh Mục Nguyễn Văn Lý tặng khi ông tới thăm ngài tại Việt Nam. Vị dân biểu liên bang của New Jersey còn cho tôi xem rất nhiều hình ảnh ông chụp với Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Linh Mục Phan Văn Lợi, Luật Sư Nguyễn Văn Ðài…
Các bức tường trong phòng của ông gần như không còn chỗ trống vì được dùng để treo hạng chục dự luật mà ông là tác giả, được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua và được tổng thống ký thành luật cũng như những bức ảnh ông chụp với các nhà lãnh đạo trên thế giới.
Chúng tôi bắt đầu câu chuyện một cách rất thoải mái. Và sau đây là phần phỏng vấn ông.
NV: Tôi biết ông là một người luôn đấu tranh cho nhân quyền, không chỉ tại Việt Nam, mà tại nhiều quốc gia khác trên thế giới. Mỗi khi có một dự luật nhân quyền Việt Nam được đệ trình tại Hạ Viện Hoa Kỳ, ông luôn là tác giả hoặc đồng bảo trợ. Ðiều gì khiến ông trở thành một con người như vậy?
D.B. Chris Smith: Ðây là một niềm tin của tôi. Tôi là một người Thiên Chúa Giáo. Nhân quyền là một quyền tự nhiên của con người, nhất là đối với những người bị đàn áp. Tôi từng gặp nhiều tù nhân chính trị tại Ðông Timor, Cuba, Việt Nam… và thấu hiểu tình cảnh của họ thật thê thảm. Một số họ bị tra tấn, bị ép buộc phải cung khai những điều họ không làm. Họ cần những người bạn tại Hoa Kỳ. Chúng ta có những biện pháp cấm vận kinh tế để gây áp lực những quốc gia này nhằm làm cho tình trạng nhân quyền tốt hơn. Theo suy nghĩ của tôi, nếu áp dụng những biện pháp này một cách hiệu quả, chúng ta có thể thành công. Ngoài ra, mặc dù chúng ta luôn đấu tranh làm cho cuộc sống con người khá hơn, vẫn còn những vụ buôn bán người, đặc biệt là trẻ em, tại nhiều quốc gia mà nhân quyền chưa được coi trọng. Những dự luật nhân quyền Việt Nam mà tôi viết cũng tương tự như dự luật tôi viết cho Belarus. Chính quyền tại đây đã đàn áp các lực lượng đối lập cũng giống như chính quyền Việt Nam đàn áp những nhà bất đồng chính kiến.
NV: Những nhà bất đồng chính kiến trong các quốc gia vi phạm nhân quyền quan trọng như thế nào mà ông luôn kêu gọi thả tự do cho họ?
D.B. Chris Smith: Như chúng ta thấy, những người có khả năng nhất và yêu nước nhất thì bị bắt bỏ tù hoặc bị tra tấn. Nếu những nhà đấu tranh tại các quốc gia đàn áp nhân quyền được thả ra, họ có thể là những nhà lãnh đạo tốt cho đất nước và rất tôn trọng nhân quyền vì chính họ từng là nạn nhân của những vụ đàn áp liên quan đến vấn đề này. Ví dụ như nhà lãnh đạo Công Ðoàn Ðoàn Kết Lech Walesa của Ba Lan và Tiến Sĩ Vaclav Havel của Tiệp từng bị tù đày nhưng sau này trở thành lãnh đạo của hai quốc gia này. Tại Việt Nam, tôi nghĩ tình hình cũng sẽ như vậy, nếu những nhà đấu tranh chính trị hiện đang bị giam giữ được thả ra.
NV: Xin ông có thể nói rõ hơn tình trạng nhân quyền tại Việt Nam.
D.B. Chris Smith: Tình trạng nhân quyền tại Việt Nam quá tệ trong một thời gian quá dài. Người dân Việt Nam cần được giải thoát để có thể vươn lên hơn nữa. Tôi nhớ cố Giáo Hoàng John Paul II từng nói công lý phục vụ hòa bình, nhưng Việt Nam chưa có công lý. Hơn nữa, sau khi có được những quyền lợi kinh tế, Việt Nam lại bắt những nhà bất đồng chính kiến. Tôi đã từng gặp Luật Sư Nguyễn Văn Ðài tại Hà Nội cách đây một năm rưỡi. Luật Sư Ðài muốn Việt Nam có luật rõ ràng và được áp dụng đồng đều cho mọi người. Luật phải được sử dụng để bảo vệ người thế cô chống lại kẻ mạnh. Ðó là điều mà Luật Sư Ðài theo đuổi và đó cũng là điều mà người dân Việt Nam mong mỏi.
NV: Theo tôi biết, Ðịa Hạt 4 của New Jersey do ông đại diện không có nhiều cử tri người Mỹ gốc Việt. Và nếu để kiếm phiếu của nhóm cử tri này, rõ ràng là không đáng kể. Nhưng ông vẫn đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam. Tại sao vậy?
D.B. Chris Smith: Tôi không đấu tranh nhân quyền để kiếm phiếu và phục vụ cho cuộc tranh cử sắp tới. Nếu một chính trị gia nào đó làm như vậy thì cũng tốt thôi, nhưng không nhất thiết phải như vậy. Tôi đấu tranh cho nhân quyền vì tôi tin đó là điều nên làm và đó cũng là ý muốn của mọi người. Ðối với tôi, nếu tôi thấy một nhóm người hoặc ngay cả một người không được đối xử tử tế là tôi đấu tranh cho họ, nhất là trong trường hợp Việt Nam. Chúng ta có thể đứng về phía nào tùy chúng ta, người bị đàn áp hoặc người đàn áp. Nhưng tôi nghĩ tôi phải đứng về phía người bị đàn áp và nói lên sự thật cho họ. Ðiều này không có nghĩa là chúng ta cấm vận mọi thứ, nhưng chúng ta có những biện pháp hiệu quả bắt buộc những chính quyền độc tài phải tuân theo một tiêu chuẩn tối thiểu nào đó. Nhiều người vẫn còn ngây thơ cho rằng với quan hệ thương mại song phương một chế độ độc tài có thể thay đổi. Tôi xin nói thẳng rằng trong lịch sử điều đó chưa bao giờ xảy ra. Trong Ðệ Nhị Thế Chiến, chính quyền quân phiệt Ý có giao thương với chúng ta, nhưng họ vẫn thi hành những chính sách độc tài với người dân của họ. Giao thương chỉ có thể làm cho chế độ độc tài trở nên độc tài hơn.
NV: Sắp tới Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sẽ sang thăm Hoa Kỳ và có khả năng gặp các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ để bàn chuyện gia tăng thương mại. Nếu gặp ông Dũng, ông sẽ nói gì?
D.B. Chris Smith: Tôi sẽ yêu cầu ông ấy thả tất cả các tù nhân chính trị ngay lập tức, nhất là các thành viên Khối 8406. Tôi cũng sẽ cho ông Dũng biết Việt Nam không thể nói là có tự do tôn giáo khi một số nhà tu hành bị bắt giam. Ðây là những người chỉ thực hành tín ngưỡng của họ. Ví dụ như những tăng ni thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất hiện không được tự do hoạt động là điều không thể chấp nhận được. Trong khi đó, Việt Nam đã ký tất cả các văn bản và hiệp ước về nhân quyền, nhưng họ làm như không biết gì hết. Rồi nạn buôn người nữa. Tôi sẽ nói người đại diện của Việt Nam phải làm hơn nữa, chứ tình trạng hiện nay là không thể chấp nhận được. Còn nạn buôn bán lao động thì không ai xét xử. Bản báo cáo mới đây của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về vấn đề buôn người và buôn bán lao động cho thấy Việt Nam ngày càng mất uy tín. Nhiều người Việt Nam còn bị trao đổi như là nô lệ. Thử hỏi có chính quyền quốc gia nào trên thế giới lại để cho người dân của mình bị đối xử như vậy? Khi cựu Thủ Tướng Phan Văn Khải đến Hoa Kỳ năm 2006, lúc đó với tư cách là chủ tịch Ủy Ban Nhân Quyền Hạ Viện, tôi đã tổ chức một buổi điều trần về nhân quyền Việt Nam ngay tuần lễ ông đến Washington D.C. Có nhiều nhà lãnh đạo cộng đồng Việt Nam cũng như đại diện các tổ chức phi chính phủ đã ra điều trần. Mục đích của buổi điều trần này là cho ông Khải biết ông đừng nghĩ là chúng tôi không biết gì về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam để ông chỉ có thể nói về thương mại không thôi. Sau khi được vào WTO rồi Việt Nam không cải thiện nhân quyền tí nào cả. Vì vậy, tôi hy vọng lần này Quốc Hội sẽ có dịp để nói lên vấn đề này khi ông Dũng đến Hoa Kỳ.
NV: Ông là tác giả của Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam, HR 3096, và nó đã được Hạ Viện thông qua và bây giờ nằm trong tay Thượng Viện. Trước đây, dự luật này từng bị kẹt tại Thượng Viện. Còn năm nay như thế nào?
D.B. Chris Smith: Ðây là lần thứ ba dự luật được đệ trình lên Thượng Viện. Lần trước đã bị Thượng Nghị Sĩ John Kerry chặn. Lần này, tôi đã yêu cầu Thượng Viện dứt khoát phải đưa ra bỏ phiếu thuận hoặc chống, chứ đừng dùng giằng nữa. Có nhiều điều kiện trong dự luật liên quan đến viện trợ, tài sản tôn giáo, đài phát thanh Radio Free Asia… Tôi nghĩ những điều kiện này là hợp lý mặc dù tất cả không thể thực hiện được trong một sớm một chiều. Tuy nhiên, dự luật sẽ làm chính quyền Việt Nam phải đạt được một cái gì đó đáng khích lệ. Ðây là một dự luật vừa phải. Bản thân tôi muốn bỏ thêm nhiều điều khoản khác vào nữa, nhưng tôi nghĩ như vậy cũng đủ để cho chính quyền Việt Nam biết là quý vị phải thực hiện những tiến bộ nào đó, một cách thực sự. Tuy nhiên, hôm đầu Tháng Năm vừa qua, tôi được Thượng Nghị Sĩ Joe Biden, chủ tịch Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện, gởi một bức thư cho biết ông không cảm thấy thuyết phục với điều khoản ngăn cấm gia tăng viện trợ không nhân đạo vượt qua mức tài khóa năm 2007 (xin xem thư của thượng nghị sĩ này đính kèm) và cho tới hôm nay từ chối đưa dự luật ra để bỏ phiếu tại ủy ban. Ðiều khoản này không phải thuần túy là cấm vận như đã từng áp dụng với những quốc gia khác như Nam Phi hoặc Sudan chẳng hạn. Ðây là những viện trợ của Hoa Kỳ, từ tiền túi của người Mỹ đóng thuế, và chúng ta chỉ muốn đưa cho những chính quyền có tiến bộ trong chính sách về nhân quyền. Dự luật này không đòi hỏi ngưng viện trợ nhân đạo cũng như những khoản viện trợ để Việt Nam chiến đấu chống bệnh AIDS.
NV: Như vậy là dự luật này chưa có tiến triển nào?
D.B. Chris Smith: Chưa có tiến triển gì cả. Chúng tôi vẫn tiếp tục kêu gọi đưa dự luật ra bỏ phiếu, đừng ngăn chặn dự luật dù với bất cứ hình thức nào. Tôi nghĩ nếu được đưa ra bỏ phiếu tại Thượng Viện thì dự luật sẽ được thông qua một cách áp đảo, giống như tại Hạ Viện. Rất ít khi tại Hạ Viện có một dự luật được đại đa số phiếu như vậy và được sự ủng hộ của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ.
NV: Một trong những điều khoản của HR 3096 liên quan đến đài phát thanh Radio Free Asia. Tôi có nói chuyện với một số người làm việc tại đây và họ nói ông được coi như là cha đẻ của đài khi ông là tác giả dự luật thành lập 1996. Và ông luôn đòi hỏi ngân sách để giúp đài này chống lại việc phá sóng. Radio Free Asia quan trọng như thế nào mà ông chú ý nhiều đến vậy?
D.B. Chris Smith: Chúng tôi không tuyên truyền. Chúng tôi chỉ muốn đưa sự thật đến người dân các nước chưa thật sự có nhân quyền và trang bị cho họ một kiến thức đầy đủ qua những thông tin được đưa đến mà không bị chính quyền kiểm soát. Trong thời kỳ Liên Xô còn tồn tại, Radio Free Europe đã từng đưa nhiều thông tin quan trọng qua “bức màn sắt” tại Ðông Âu và giúp nhiều người tiếp tục hy vọng. Vì thế, Radio Free Asia cũng là một hình thức như vậy để đưa thông tin qua “bức màn tre” để người dân có thể biết còn một khía cạnh khác của thông tin mà họ không được nghe từ phía chính quyền. Chúng tôi hy vọng người dân sẽ được nghe nhiều về tự do, hy vọng có tự do, họ không phải là những người cô đơn… Chúng tôi biết chính quyền các nước có Radio Free Asia phát vào đã từng vận động Hoa Kỳ bỏ những tiếng nói này đi hoặc tìm cách ngăn chặn. Trung Quốc từng ngăn chặn đài này và hiện Việt Nam cũng làm như vậy.
NV: Ở Hạ Viện Hoa Kỳ có hai dân biểu luôn đấu tranh cho nhân quyền. Ðó là Dân Biểu Tom Lantos (California) và ông. Ông Lantos đã qua đời. Ông có cảm thấy cô đơn trong vấn đề này không?
D.B. Chris Smith: Cố Dân Biểu Tom Lantos là một người bạn tốt của tôi và là một người sống sót trong thời kỳ diệt chủng dân Do Thái trong Ðệ Nhị Thế Chiến. Ông hiểu rất rõ sự tàn ác của các chế độ độc tài. Một số thành viên trong gia đình ông đã bị giết trong trại tập trung. Ông và vợ may mắn trốn thoát được. Vì thế, ông là một người dấn thân cho đấu tranh nhân quyền. Ông và tôi luôn sát cánh nhau làm việc về vấn đề này. Ngoài ra, một đồng viện khác của tôi, Dân Biểu Frank Wolf (Virginia), cũng nổi tiếng là một người luôn đấu tranh cho nhân quyền cho mọi người nói chung và cho Việt Nam nói riêng. Nói chung, đối với cố Dân Biểu Tom Lantos cũng như Dân Biểu Frank Wolf, họ đấu tranh cho nhân quyền là vì họ tin chắc rằng nhân quyền rất quan trọng đối với tất cả mọi người.
NV: Ông có điều gì muốn nói thêm?
D.B. Chris Smith: Tôi kêu gọi mọi người hãy tiếp tục gây sức ép với Thượng Viện để thông qua HR 3096 để Quốc Hội kỳ này không thể trì hoãn hoặc hủy bỏ dự luật này. Kế đến là tiếp tục cầu nguyện cho công lý và hòa bình cho Việt Nam vì còn rất nhiều người ở đó đang chịu đựng sự đàn áp và kiểm soát của chính quyền. Tôi biết nhiều người Việt Nam vượt biển để đến đây tìm tự do và họ rất thành công trong xã hội. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người kẹt lại và nhiều người ở đây vẫn còn thân nhân ở Việt Nam. Chúng ta không nên quên họ. Mỗi người, bằng cách riêng của mình, hãy tiếp tục công việc đấu tranh cho nhân quyền cho Việt Nam không chỉ cho hiện nay mà cho nhiều thế hệ tương lai.
Thư của Thượng Nghị Sĩ Joe Biden gởi Dân Biểu Chris Smith
Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện Hoa Kỳ
Ngày 1 Tháng Năm, 2008
Dân Biểu Chris Smith thân mến,
Cảm ơn ông đã viết thư cho tôi về HR 3096, Dự Luật Nhân Quyền Cho Việt Nam 2007. Tôi chia sẻ những quan tâm của ông về những vi phạm nhân quyền đang xảy ra tại Việt Nam. Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện đang nghiên cứu tất cả các lựa chọn để có một giải pháp tốt nhất để vấn đề này được tiến triển hơn tại Việt Nam. Tôi không cảm thấy thuyết phục là điều khoản chính của HR 3096 – chống lại bất cứ gia tăng viện trợ không nhân đạo của Hoa Kỳ cho Việt Nam so với tài khóa năm 2007 trừ khi có thay đổi trong một số lãnh vực, một cách rõ ràng và có thể kiểm chứng được – sẽ giúp nhân quyền Việt Nam tiến triển hơn. Thực ra, trong các điều khoản khác của dự luật – bao gồm gia tăng ngân sách cho các chương trình dân chủ hóa và ngăn chặn việc phá sóng của đài Radio Free Asia – đủ cho thấy các biện pháp làm cho Việt Nam thay đổi. Nhưng tôi chia sẻ niềm tin của ông rằng những biện pháp của chúng ta cần phải được làm mạnh hơn, và với mục tiêu đó, nhiều thành viên của ủy ban đang nghiên cứu kỹ lưỡng thêm vấn đề. Tôi tin rằng, nếu cùng nhau làm việc, chúng ta có thể tìm ra phương cách khác để bảo đảm những chương trình viện trợ của Hoa Kỳ được gắn liền vào công cuộc cải tổ tại Việt Nam.
Hôm 12 Tháng Ba, 2008, ủy ban đã tổ chức một buổi điều trần xem xét quan hệ Việt Mỹ, với sự tập trung đặc biệt về nhân quyền. Chúng tôi đã nghe không những từ ông Christopher Hill (phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ), mà còn từ cô Janet Nguyễn (giám sát viên Orange County), bà Sophie Richardson (giám đốc phụ trách Châu Á của tổ chức Human Rights Watch), bà Ann Mills Griffith (giám đốc điều hành Liên Ðoàn Gia Ðình Cựu Tù Binh và Những Binh Lính Mất Tích), ông Ðỗ Hoàng Ðiềm (chủ tịch đảng Việt Tân) và ông Matt Daley (chủ tịch Hội Ðồng Thương Mại Việt Mỹ và là cựu phó phụ tá ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Ðông Á và Thái Bình Dương sự vụ).
Những nhân chứng đặc biệt này đã đưa ra nhiều bằng chứng hùng hồn về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam và làm cách nào để Hoa Kỳ có thể cải tiến vấn đề này một cách hiệu quả hơn. Mặc dù các nhân chứng đưa ra nhiều cách khác nhau để thay đổi tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, tất cả đều đồng ý rằng Hoa Kỳ có thể làm nhiều hơn nữa để gia tăng các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, đẩy mạnh truyền thông độc lập và hợp tác với các tổ chức quần chúng bên trong Việt Nam. Và tất cả đều đồng ý rằng tăng cường sự chú ý đến hồ sơ nhân quyền Việt Nam là một yếu tố cần thiết cho bất cứ một tiến trình cải tổ nhân quyền nào cho quốc gia này.
Vì thế, tôi rất tôn trọng sự đấu tranh không ngừng nghỉ của ông trong vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Tôi mong đợi được làm việc với ông trong vấn đề quan trọng này.
Joe Biden,
Chủ tịch Ủy Ban Ngoại Giao Thượng Viện Hoa Kỳ