Gs Tạ Văn Tài: Phải kiện gấp rút kẻo trễ!

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
MP3 - 5.4 Mb

Một vấn đề đang được tranh cãi, cũng như đã tạo nên sự chống đối của đồng bào trong và ngoài nước, là việc Trung Cộng ngang nhiên đem giàn khoan HD 981 vào khai thác dầu khi trong cùng lãnh hải của Việt Nam, đồng thời Trung Cộng lớn lối cho rằng đây là vùng hải phận của mình. Trong khi đó, nhà cầm quyền CSVN chỉ lên tiếng, tuy được xem là mạnh nhất từ trước đến nay, nhưng trên thực tế, vẫn ra tay đàn áp và bắt bớ những người dân yêu nước bầy tỏ sự chống đối Trung Cộng xâm lược.

Để tìm hiểu sự kiện này, GS Tạ Văn Tài, một chuyên gia về luật quốc tế, có những nhận định như sau, mời quý vị theo dõi.

***

Gs Tạ Văn Tài, nguyên Giáo Sư Đại Học Luật Khoa Saigon và Trường Quốc Gia Hành Chánh, Saigon, Viet Nam, trước 1975 .

• Tốt nghiệp Cao Học Luật Khoa tại Ðại Học Harvard, 1985. Tiến Sĩ về Chính trị học–Công Quyền và Ngoại Giao tại Ðại Học Virginia,1965.

• Luật Sư tại ViŒt Nam trÙÖc næm 1975 và tåi các toà án Tiểu Bang và Liên Bang ở Massachusetts từ năm 1986.

• Hội Viên Nghiên Cứu từ năm 1975 và Giảng Viên Luật Việt Nam và Trung quốc tại Trường Luật Khoa, Ðại Học Harvard.

• Học Giả Nghiên Cứu tại Trường Luật Khoa, Ðại Học New York, 1990-1994.

Ngoài ra Gs Tạ Văn Tài còn viết rất nhiều bài nghiên cứu về kinh tế, chính trị như “Hiệp Ước Thương Mại Mỹ – Việt”, Truyền Thống Nhân Quyền Việt Nam, Ðại Học Berkeley, Viện Nghiên Cứu Ðông Á, Luật Ðầu Tư và Hành Nghề tại Việt Nam, Chánh Sách Bầu Cử tại Nam Việt Nam, Massachusetts:

Gs Tạ Văn Tài cũng Nhận các Giải Thưởng Fulbright, USAID, của Tổ chức Asia và Ford Foundations, cûa Aspen Institute .Tiểu sử và thành tích được đăng trong các sách :Who’s Who In The World.

Nguồn: RadioCTM

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cơ quan quản lý cước phát thanh truyền hình GEZ, Đức. Ảnh: FB Tho Nguyen

Truyền thông độc lập (bài 2)

Sau 1945 người Đức coi truyền thông nhà nước là cái ổ tiềm ẩn cho chế độ độc tài. Khi xây dựng hiến pháp, bên cạnh việc phân chia đất nước theo thể chế liên bang, kiểm soát quyền lực bằng tam quyền phân lập người ta cũng xóa bỏ các đài phát thanh và truyền hình nhà nước, lập ra hệ thống phát thanh và truyền hình công cộng. Chính quyền từ địa phương đến liên bang bị cấm không được lập cơ quan truyền thông để tự tuyên truyền cho mình… Tư nhân vẫn có quyền làm báo, in ấn, lên sóng phát thanh, truyền hình, điện ảnh, sân khấu.

Ảnh minh họa: VNTB

Từ luật sư đến bác sĩ: Cải cách thủ tục hay gia tăng kiểm soát?

Nếu mục tiêu chỉ là cải cách thủ tục, tại sao phải trao thêm cho chủ tịch xã, trưởng Công an xã quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư – một thứ vốn do Bộ Tư pháp và các thiết chế chuyên môn giám sát?

Nếu mục tiêu chỉ là giảm tải cho Bộ Y tế, tại sao không củng cố các hội đồng y khoa độc lập, mà lại giao trọn quyền cấp, thu hồi giấy phép bác sĩ cho chủ tịch tỉnh?

Đó không còn là chuyện “rút ngắn quy trình,” mà là chuyện ai được cầm chìa khóa nơi vận hành cả hệ thống.

Nhân viên đài phát thanh Tiệp biểu tình phản đối việc nhà nước hóa truyền thông công cộng

Truyền thông độc lập (bài 1)

Trong tháng Hai 2026, chính phủ cánh hữu (Tiệp – nước Cộng hòa Séc) của Thủ tướng Babis đã quyết định: Từ 2027 các đài phát thanh truyền hình công cộng sẽ không sống vào tiền cước phí truyền hình do dân đóng, mà sẽ được cấp bởi ngân sách nhà nước, lấy từ tiền thuế.

Người Việt sẽ bảo: Thế thì sao lại phản đối? Dân sẽ đỡ phải đóng cước phí truyền thông, trong khi nhà đài vẫn được nhà nước chu cấp cơ mà?

Ngày càng nhiều người Việt Nam, Trung Quốc thuộc tầng lớp trung lưu hoặc giàu có tìm cách rời nước ra đi định cư ở các nước khác, mang theo hàng triệu đô la. Ảnh: AI

Tầng lớp trung lưu Việt Nam và Trung Quốc trước làn sóng tập quyền

Trong các hệ thống chính trị tập quyền, nỗi lo lắng không phân bổ đều cho tất cả mọi người. Người nghèo thường đã quen với sự bất định; giới tinh hoa chính trị thì có đủ quan hệ để tự bảo vệ. Nhưng tầng lớp ở giữa – những người đã tích lũy được tài sản, học vấn và vị thế xã hội nhờ vào một thời kỳ tăng trưởng kinh tế chưa từng có – lại đứng trước một nghịch lý đau đớn: Họ có đủ để mất, nhưng không đủ quyền để được bảo vệ.

Đây chính là tình trạng của tầng lớp trung lưu ở Việt Nam và Trung Quốc ngày nay…