Liệu Hà Nội Có Thể Ngăn Chận Sự Bỏ Trốn Của Người Đi Lao Động Nước Ngoài?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Chiều ngày 29 tháng 7 vừa qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội CSVN đã họp để bàn cãi về việc có nên cho ra một Nghị Định để xử phạt hành chánh nặng hơn nữa đối với lao động xuất khẩu bỏ trốn hay không? Vì theo nhà nước Pháp Lệnh hiện hành chỉ phạt tiền người đi lao động nước ngoài mỗi khi đương sự tìm cách bỏ trốn, vi phạm hợp đồng. Không cần tìm hiểu nguyên nhân chính tại sao mà người đi lao động hợp tác khi ra nước ngoài thường tìm cách bỏ trốn, bà Nguyễn Thị Hoài Thu (Chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội CSVN) đã mong muốn Quốc hội sớm cho ra cái Nghị Định này vì theo bà Thu thì cùng một thị trường, lao động Trung Quốc trốn với tỷ lệ rất thấp, còn lao động Việt Nam trốn đến 40%. Ở Trung Quốc, lao động trốn bị buộc về nước và phải đi tù hoặc gia đình hay người bảo lãnh phải chịu phạt thay. Còn Việt Nam do pháp luật về xử lý vi phạm hành chánh chưa quy định hình thức xử lý buộc về nước nên tỷ lệ trốn cao, ảnh hưởng đến uy tín quốc gia và thực tế là Việt Nam đang mất dần thị trường lao động.

Bà Thu sợ Việt Nam mất dần thị trường lao động thì đúng, nhưng sợ quốc gia mất uy tín thì sai. Không thể nào nói hai chữ uy tín khi nhà nước bán dân đi lao động cho nước ngoài, một hình thức chẳng khác nào việc buôn bán nô lệ ngày xưa. Nghe câu phát biểu dưới đây của ông Vũ Mão, Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Quốc hội, ta thử hỏi uy tín của Việt Nam hiện nay có khá không. “Hơn 10 năm qua, chúng ta đã phải đấu tranh với nhiều nước về vấn đề người Việt Nam ra nước ngoài rồi cư ngụ bất hợp pháp. Bây giờ nếu nâng thành pháp lệnh, tất yếu phải công bố rộng rãi, các nước sẽ vịn vào đó mà trả người về”. Còn ông Vũ Dũng, Thứ trưởng Ngoại giao, đã bổ sung lời phát biểu của ông Vũ Mão bằng những con số hiện thực là một số nước đang đề nghị trả lại hàng chục ngàn người Việt Nam cư trú bất hợp pháp. Vì thế để không làm ảnh hưởng những người khác, Vũ Dũng đề nghị Thường vụ Quốc hội xem xét, cân nhắc tới lợi ích quốc gia.

Ba thị trường xuất khẩu lao động lớn của Việt Nam tại Á châu là Đài Loan, Hàn quốc và Nhật Bản. Số phận của những người lao động Việt Nam tại Đài Loan rất bi đát hơn ở Hàn quốc hay Nhật Bản. Tỷ lệ lao động xuất khẩu tại Hàn quốc là 52% và tại Nhật Bản có lúc lên đến 60%. Thật ra chẳng có người lao động xuất khẩu nào muốn bỏ trốn vì rất nhiêu khê, không phải dễ dàng và sau đó còn bị nhiều khó khăn khác mà trước tiên là mất toi số tiền thế thân 10 ngàn mỹ kim đối với người đi Nhật và gần 8 ngàn mỹ kim đối với người đi làm ở Hàn Quốc.

Nhà nước sử dụng danh từ đúng với thực tế là Lao Động Xuất Khẩu, nhưng trên giấy tờ khế ước và khi ra đến nước ngoài thì phần đông lại trở thành Nghiên Cứu Sinh hay Tu Nghiệp Sinh nhưng công việc của họ là công việc thuần lao động chứ chẳng có gì gọi là nghiên cứu hay tu nghiệp. Chính những mỹ từ này đã làm cho người lao động xuất khẩu quá thiệt thòi về lương bổng. Luật lao động ở Nhật quy định rõ ràng là hiện nay lương tối thiểu phải trả cho một lao động là 500 yen / giờ (gần 5 mỹ kim), nếu trả dưới cái giá đó là vi phạm, thế mà người lao động xuất khẩu Việt Nam làm quần quật từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều mà mỗi tháng có người chỉ nhận được trong tay chừng 300 mỹ kim, không bằng 1/5 lương người bản xứ cũng cùng làm chung một công việc đó. Người chủ hãng Nhật hay tại Nam Hàn, Đài Loan đã cấu kết với công ty xuất khẩu ở Việt Nam vi phạm trắng trợn luật Lao động của các nước này mà không sợ bị phạt vì Nghiên Cứu Sinh hay Tu Nghiệp Sinh chỉ là những người đi nghiên cứu hay học nghề, không phải là người lao động nên đó không phải là tiền lương mà tiền của hãng cho để xài vặt.

Nếu các công ty giới thiệu xuất khẩu lao động ở Việt Nam, nói thẳng ra là bộ phận của một cơ quan nhà nước nào đó khi làm hợp đồng ghi rõ là những người này sang Hàn Quốc hay sang Nhật làm lao động thì chắc chắn đồng lương sẽ nhận được nhiều hơn, giảm bớt việc bỏ trốn. Lý do chính đưa đến việc người lao động xuất khẩu thường hay bỏ trốn là vì những bất công trong công việc và sự bắt chẹt đồng lương của hai phía công ty môi giới và công ty nhận người làm. Không giải quyết sòng phẳng những bất công này mà đi vẽ ra luật này, luật kia thì chỉ để bắt chẹt thêm những người dân thấp cổ bé miệng mà thôi. Do đó, muốn ngăn chận tình trạng trốn ở lại của người lao động, Hà Nội cần phải có những luật lệ mang một số nội dung như sau:
- Ngăn chận tình trạng cưỡng đoạt mồ hôi của người lao động qua việc bắt chẹt tiền lương của các công ty môi giới và công ty nhận người lao động làm việc.
- Quy định một cách hợp lý về việc trả lương cho người lao động theo tiêu chuẩn lao động của quốc gia hiện hành chứ không thể áp dụng tuỳ tiện của công ty môi giới với chủ nhân.
- Tạo điều kiện dễ dãi cho người lao động trong việc thay đổi công việc hay nơi cư trú nếu họ không cảm thấy thích hợp với công việc mà đã lỡ ký hợp đồng trước khi được đưa sang làm việc.
- Quy định nhân viên các tòa đại sứ phải đứng về phía người lao động xuất khẩu để bảo vệ chứ không được đứng trên tư thế của các chủ nhân hầu bắt chẹt hay uy hiếp người lao động.
- Nhà cầm quyền phải dành mọi dễ dãi và giúp đỡ trong việc hồi hương khi người lao động gặp khó khăn.

Trên đây là những điều tâm huyết mà nhiều lao động xuất khẩu tại các quốc gia nói lên nhưng hầu như Cộng sản Việt Nam không bao giờ chú ý. Do đó, ngày nào mà Hà Nội không thực tâm chăm sóc và bảo vệ người lao động xuất khẩu, thì việc Quốc hội CSVN ra hàng chục Nghị định cũng không thể nào ngăn chận việc trốn ở lại các công nhân Việt Nam tại Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản ở mức báo động như hiện nay.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Một trại tập trung được chính quyền Trung Quốc xây ở Tân Cương. Ảnh: Greg Baker/ AFP

Tân Cương có gì để Bộ Công an đến học hỏi?

Đầu tháng Chín mới đây, theo thông tin từ Bộ Công An, lãnh đạo của cơ quan này, Bộ trưởng Lương Tam Quang, đã có chuyến thăm đến Khu tự trị Tân Cương, thuộc Trung Quốc.

Tại cuộc gặp, ông Quang “mong muốn” cả hai bên “nghiên cứu,” “chia sẻ kinh nghiệm” vì “các địa phương của Việt Nam có điều kiện kinh tế, xã hội tương đồng với Tân Cương.”

Tài xế Grab tại TP.HCM. Ảnh: Bloomberg

Bloomberg: Tài xế xe công nghệ Grab tại Việt Nam lên kế hoạch ngừng chạy cuối tuần để phản đối mức chiết khấu

Các tài xế của Grab Holdings Ltd. tại Việt Nam đang kêu gọi đồng loạt ngừng bật app để phản đối mức chiết khấu trên doanh thu của công ty, mà họ cho là quá cao.

Theo các tài xế, Grab có thể giữ lại tới 50% giá cước, khiến thu nhập thực tế của họ giảm đáng kể trong bối cảnh giá nhiên liệu và chi phí bảo dưỡng, vận hành phương tiện ngày càng tăng.

Quang cảnh Lễ Tưởng Niệm Cố Đề Đốc Hoàng Cơ Minh và các Anh Hùng Đông Tiến lần thứ 39 tại thành phố Kazo, tỉnh Saitama, Nhật Bản ngày 13 tháng 9 năm 2026

Nhật Bản: Lễ Tưởng Niệm Kháng Chiến Quân Đông Tiến lần thứ 39 tại Saitama

Để tưởng nhớ và tri ân những vị Anh Hùng Đông Tiến đã hy sinh cho lý tưởng tự do, Lễ Tưởng Niệm Kháng Chiến Quân Đông Tiến lần thứ 39 đã được tổ chức trang nghiêm tại phòng hội cộng đồng thành phố Kazo, tỉnh Saitama, ngày 13 tháng 9 năm 2026. Buổi lễ có sự tham dự của đông đảo đồng hương Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nagano, Nara, Kanagawa, Tokyo, Kazo cùng các khu vực lân cận.

Một tài xế lái xe GrabBike chở khách trên đường phố Hà Nội hôm 29/12/2018. Ảnh: Reuters

Áp lực trăm bề, tài xế Grab kêu gọi đình công để đòi quyền lợi

“Một cổ hai tròng,” những tài xế chạy xe dịch vụ Grab vừa phải chịu giảm thu nhập, lại thêm gánh nặng chi tiêu cho cuộc sống thường nhật.

Từ đầu tháng Chín mới đây, trên các diễn đàn Grab, nhiều tài xế tại nhiều tỉnh thành đang lan truyền lời kêu gọi tắt ứng dụng chạy xe trong hai ngày tới đây, 12 – 13/9, nhằm phản đối, tạo áp lực lên Grab vì chính sách chiết khấu hiện tại.