Người Lao Động VN Đã Sử Dụng Đến Vũ Khí Cuối Cùng?

Nam Nguyên

Nam Nguyên, phóng viên đài RFA
2008-05-26

Nhận định về các cuộc đình công hiện nay của giới công nhân Việt Nam, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế nhiều kinh nghiệm của Việt Nam, cho rằng: Người lao động đã sử dụng đến vũ khí cuối cùng.

Làn sóng đình công tiếp tục lan rộng ở cả ba miền Nam Trung Bắc Việt Nam, ảnh hưởng môi trường đầu tư đe dọa bất ổn xã hội. Đặc biệt gần đây nhiều cuộc đình công kèm theo xung đột bạo lực.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho Nam Nguyên của đài chúng tôi, Tiến Sĩ Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế nhiều kinh nghiệm của VN, đã đề cập tới một số khía cạnh liên quan tới vấn đề này. Từ Hà Nội TS Lê Đăng Doanh đưa ra nhận định:

Không có dấu hiệu giảm bớt

TS Lê Đăng Doanh: Trong thời gian qua tình trạng đình công ở Việt Nam đã tăng lên và trong những tháng đầu năm cũng không có dấu hiệu giảm bớt.

Tình trạng công nhân đình công thì có nhiều lý do, trong đó lý do nổi bật là công nhân không cảm thấy hài lòng về sự trả lương, sự đối xử cũng như quan hệ thông tin giữa người sử dụng lao động và người lao động.

Còn về phía người sử dụng lao động thì cũng có các nhận định không được tốt về người lao động, người công nhân.

Theo như công trình điều tra của Viện nghiên cứu về người lao động và công nhân trực thuộc ban chấp hành Tổng Liên Đoàn Lao Động VN: tổng số các vụ đình công cho tới năm 2007 đã lên tới con số 1.600 vụ và gần đây đình công vẫn tiếp tục diễn ra. 68% các vụ đình công diễn ra ở các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, chủ yếu là ở các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài mức vừa và nhỏ. Trong khi ở các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có qui mô lớn của các công ty lớn thì ít có đình công.

Nam Nguyên: Thưa TS, để giải quyết tận gốc vấn đề đình công ở Việt Nam thì sẽ phải làm gì, bắt đầu từ đâu trong chừng ấy nguyên nhân mà ông vừa nêu ra?

TS Lê Đăng Doanh: Theo tôi, gần đây tình trạng đình công trở nên phức tạp hơn vì lạm phát tăng cao và thu nhập của người lao động chậm được nâng lên; cho nên người lao động cảm thấy sức ép rất lớn và người lao động đã phải sử dụng vũ khí cuối cùng của mình là đình công.

Bên cạnh đó thì một số doanh nghiệp cũng gặp những khó khăn do lạm phát, họ cũng không dễ dàng gì bởi vì họ chịu lãi suất ngân hàng cao, họ chịu tác động của đồng đô la giảm giá, rồi thì biến động tỷ giá, rồi thì khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng và khó khăn trong việc xuất khẩu hàng do ứ động hàng ở cảng,v.v… Cho nên họ cũng chậm trong việc cải thiện tiền lương đối với người công nhân.

Tình hình này trở nên phức tạp hơn vì quan hệ thông tin giữa hai bên là không được thông suốt. Qua các công trình nghiên cứu thấy là, người lao động lẳng lặng chuẩn bị việc đình công của mình mà không trao đổi với người sử dụng lao động. Còn người sử dụng lao động khi cần phải làm thêm giờ thêm ca để đáp ứng yêu cầu xuất khẩu đáp ứng hợp đồng quá hạn, họ cũng không trao đổi đầy đủ với người công nhân. Tôi nghĩ đấy là khả năng mà hai bên có thể cải thiện tốt nhất.

Gần đây luật lao động sửa đổi có qui định, nếu như người lao động đình công bất hợp pháp thì có thể bị trừng phạt bồi thường vì những thiệt hại do đình công bất hợp pháp gây ra. Tuy nhiên cho tới nay việc thực thi qui định đó vẫn chưa được thực hiện và vẫn phải chờ tương lai xem những đó sẽ được thực hiện ở mức độ như thế nào.

Giải pháp cho cả công nhân và doanh nghiệp?

Nam Nguyên: Thưa TS, bạo động trong nhiều vụ đình công, đặc biệt như vụ Bắc Giang mới đây, nên được giải thích như thế nào?

TS Lê Đăng Doanh: Gần đây trong một số vụ đình công, rất đáng tiếc là đã xảy ra tình trạng bạo động. Tình trạng bạo động đó đã diễn ra từ cả hai phía, phía người lao động thì đã quá bức xúc có hiện tượng đập phá xe cộ đập phá máy tính đồ dùng văn phòng.

Phía người sử dụng lao động cũng bức xúc có hành động bạo lực với người đình công, nhất là đối với những người mà họ nghi là dẫn đầu. Tôi nghĩ là những hành vi bạo lực như vậy nhất thiết phải được loại bỏ và trong trường hợp này thì cơ quan bảo vệ pháp luật cần có hành động kịp thời để ngăn chặn các diễn biến đáng tiếc xảy ra, như dẫn đến gây thương tích cho con người cũng như gây ra thiệt hại tài sản đối với doanh nghiệp.

Nam Nguyên: Thưa TS, ở một số nước người ta đã giải quyết vấn đề lạm phát và công nhân theo cách khác. Thí dụ Singapore yêu cầu doanh nghiệp giúp trực tiếp nâng cao đời sống công nhân thay vì tăng lương, vì tăng lương cũng tạo áp lực lạm phát. Thưa, Ông nhận định gì về điều này?

TS Lê Đăng Doanh: Theo tôi ở VN đã có không ít những doanh nghiệp, trong đó có cả những doanh nghiệp Nhà nước đã có các biện pháp rất đáng chú ý. Thí dụ ở Công Ty Cổ Phần Bóng Đèn & Phích Nước Rạng Đông, ban giám đốc đã chi thêm 7 ngàn đồng một ngày công cho người công nhân khi đi làm, nghĩa là nếu người công nhân đi làm thì sẽ được bổ sung thêm 7 ngàn đồng vào suất ăn của mình, còn người nào không đi làm thì không được hưởng.

Các biện pháp như thế rất đáng chú ý, theo tôi được biết từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân cho đến doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở VN hiện nay đã áp dụng những biện pháp tương tự như vậy.

Tôi nghĩ là chuyện này nên được khuyến khích phổ biến rộng rãi ở VN, để có thể tránh được các hiện tượng đình công không cần thiết, tránh được tổn thất gây ra cho người lao động cũng như doanh nghiệp.

Nam Nguyên: Cảm ơn TS Lê Đăng Doanh đã dành thì giờ cho đài RFA.