Bữa trước mục này đã trình bày rằng nạn lạm phát làm nông dân nước ta chịu khổ nhiều hơn là dân thành thị. Vì người nghèo ở miền quê phải tiêu phần lớn tiền kiếm được vào việc ăn uống, mà giá thực phẩm thì tăng tới 15% trong khi mức lạm phát nói chung chỉ tăng trên 8%. Nông dân làm ra thực phẩm, nhưng họ không đủ tiền để cạnh tranh với các công ty xuất cảng thực phẩm, cho nên đói!

Ðây là một điều mà người đọc báo ở trong nước cũng có thể thấy rõ. Năm ngoái, một tờ báo điện tử trong nước viết: “Cuối Tháng Hai, chính phủ đã ký kế hoạch xuất cảng 5 triệu tấn gạo, (tăng 500 ngàn tấn so với năm trước)… Ðể đạt mục tiêu này, chính phủ yêu cầu Bộ Thương Mại phối hợp với Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chỉ đạo doanh nghiệp xuất khẩu gạo tổ chức thu mua hết lúa hàng hóa.” (VNExpress, ngày 6 Tháng Ba năm 2006). Ðến Tháng Tám cũng năm ngoái, báo Lao Ðộng viết một bài tả cảnh dân 12 xã thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang không có gạo ăn. Phóng viên báo Lao Ðộng về tận thôn Xé, xã Xa Lý, thuật lại lời cụ bà Trần Thị Sình nói từng câu đứt hơi, “Hết gạo từ nửa năm nay rồi. Từ hôm nhận được gạo cứu đói thì sáng ăn một tí, nhịn bữa trưa, đến tối ăn một tí. Nếu không ăn thì chả ngủ được. Nhà có mấy con gà phải bán đi để mua gạo hết rồi, bây giờ chỉ lên đồi tìm rau sam, rau dền, nấu lên ăn với cơm, không có cả tiền mua muối nữa.” Huyện Lục Ngạn “đã tích cực tiến hành các biện pháp cứu đói khẩn cấp… huy động được 62.7 triệu đồng” mua gạo cứu đói cho 1,356 gia đình.

Cảnh tượng trên diễn ra trong thời gian mà ông Bùi Tiến Dũng, tổng giám đốc PMU 18 đang đánh bạc bằng tiền Nhật Bản viện trợ để xây đường sá, chắc cũng là để giúp người Việt phát triển nông thôn! Bữa rồi ra tòa ông Dũng tươi cười khai rằng ông dùng tới một triệu Mỹ kim đánh bạc, tính ra tiền Việt Nam là khoảng 16 tỷ đồng. Nếu đem cứu đói khẩn cấp thì chắc cứu được gấp 254 lần số tiền cứu đói của huyện Lục Ngạn, ngày nào dân cũng được ăn đủ no!
Kể những chuyện đó ra không phải để bôi bác cá nhân ông Bùi Tiến Dũng hay để “chống Cộng.” Tự nó, tình trạng bất công xã hội đã chống Cộng đủ lắm rồi! Ông Dũng cũng chỉ là một quân cờ trong bàn cờ chính trị và kinh tế ở nước ta, quy luật chơi cờ ra sao ông Dũng cứ theo đó mà làm. Câu hỏi chúng ta nên đặt ra là tại sao, sau 20 năm gọi là “đổi mới”, vẫn để cho tình trạng bất công xã hội diễn ra như vậy?

Mọi quốc gia khi bắt đầu phát triển kinh tế đều có cảnh người chạy nhanh, người đi chậm. Nhà giầu giầu thêm, và người nghèo dù không nghèo hơn cũng càng ngày càng nghèo hơn khi so với người giầu. Nhưng khoảng cách giầu nghèo rộng hay hẹp là do cách xếp đặt trong xã hội, do chính sách quốc gia, chứ không phải cứ số trời bắt rộng thì rộng, hẹp thì hẹp, bắt sao phải chịu vậy. Một điều mà các nhà phân tích kinh tế nhận thấy là ở Trung Quốc hiện nay mức chênh lệch giầu nghèo nặng nề nhất Á Châu, mà càng ngày khoảng chênh lệch càng rộng hơn. So sánh với những nước Á Ðông cùng sống trong một nền văn hóa, như Nhật Bản, Nam Hàn, Ðài Loan, trong thời gian họ cùng ở trong một trình độ phát triển như Trung Quốc hiện nay, thì mức độ chênh lệch giầu nghèo của các nước đó, diễn tả bằng chỉ số Gini, không quá đáng như ở Trung Hoa Lục Ðịa bây giờ.
Tuần này, báo Nhân Dân ở Bắc Kinh vừa mới phải loan báo tin mức chênh lệch giầu nghèo ở Trung Quốc lên cao hơn trước. Vì Ngân Hàng Phát Triển Á Châu mới công bố những “chỉ số Gini,” một thước đo tình trạng chênh lệch giầu nghèo. Gini là một con số tính từ số không đến số một trăm, số 100 là bất công tuyệt đối nếu tài sản cả nước tập trung trong tay một người; zero là khi tất cả mọi người có tài sản, lợi tức bằng nhau. Chỉ số từ 30 đến 40 được coi là mức chênh lệch tự nhiên khó tránh được, con số càng lên cao là càng bất công. Các nước Thụy Ðiển, Na Uy, Ðan Mạch có chỉ số Gini khoảng 25, trong xã hội lợi tức bình đẳng hạng nhất. Canada, Thụy Sĩ và Pháp có chỉ số Gini 33; trong khi ở Nga là 40, Mỹ là 45.
Chỉ số Gini của Trung Quốc vào năm 1993 là 40, năm 2002 đã lên tới 44, năm sau là 45, và tới nay đã lên tới 47. Tức là mức chênh lệch giầu nghèo ở Trung Quốc bây giờ nặng hơn cả Nga lẫn Mỹ. Chính phủ Trung Quốc vẫn được khen là đã xóa bỏ được nạn chết đói, đã giảm bớt số người sống dưới “mức nghèo khó.” Nhưng khi định nghĩa thế nào là mức nghèo khó, con số lợi tức của “người nghèo” mà Bắc Kinh chọn chỉ cao bằng 5% con số lợi tức bình quân của cả nước. Tức là nếu trung bình mỗi người dân kiếm được 100 đồng, anh chị nào kiếm từ 5 đồng trở xuống được xếp hạng nghèo. Mức nghèo khó ở Mỹ cao hơn ở Trung Quốc, nhưng điều đáng chú ý là mức lợi tức gọi là nghèo ở Mỹ cũng cao bằng 12% mức lợi tức bình quân. Nước Mỹ tư bản có nhiều tỷ phú, nhiều triệu phú, nhưng sự chênh lệch giầu nghèo không tệ bằng nước Cộng Sản Trung Hoa.
Một điều hiển nhiên đáng cho người Việt Nam suy ngẫm, là sau 30 năm cải tổ kinh tế, mức chênh lệch giầu nghèo ở Trung Quốc mỗi năm càng nặng nề hơn. Một quốc gia từng theo chế độ “cào bằng” tài sản và lợi tức, ít nhất trên lý thuyết, nay là một nước mà lợi tức và tài sản người giầu so với người nghèo ngày càng cách xa nhau hơn, hơn hẳn các nước tư bản.
Còn chỉ số Gini của Việt Nam là bao nhiêu? Các cơ quan tài chánh quốc tế không công bố chỉ số Gini của các nước tính cùng một năm, cho nên khó so sánh. Tài liệu của cơ quan tình báo CIA (đọc tự do trên mạng lưới) cho biết chỉ số Gini của Việt Nam là 36, nhưng đó là con số tính từ năm 1999. Vì Việt Nam đang mô phỏng theo đường lối kinh tế của Trung Quốc, chúng ta có thể đoán là chỉ số Gini của Việt Nam trong bẩy năm qua cũng lên cao đều đều, tức là khoảng cách giầu nghèo ngày càng chênh lệch hơn.
Khi đảng Cộng Sản Việt Nam tuyên bố họ chủ trương “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” thì chắc họ cũng muốn xã hội công bằng hơn thật, chứ không ai nỡ chủ trương có những ông Bùi Tiến Dũng bên cạnh những người dân đói ở huyện Lục Ngạn. Nhưng ước muốn là một chuyện, chính sách như thế nào để đạt được những ước muốn đó, lại là vấn đề khác.
Không phải các nước cộng sản cũ đều lâm vào cảnh chênh lệch giầu nghèo nặng như ở Trung Quốc và Việt Nam. Chỉ số Gini của Ba Lan là 34; Hungary và Cộng Hòa Chếch đều là 27, có thể so sánh giống như các nước Bắc Âu. Tại sao các nước Ðông Âu này không để cho xã hội thành bất công như ở Trung Quốc và Việt Nam? Muốn biết tại sao chúng ta phải nhìn xem trên căn bản thì việc “đổi mới kinh tế” của các nước cộng sản nghĩa là gì.

Nhìn một cách tổng quát và trong một khoảng thời gian đủ lâu dài thì chúng ta thấy các cuộc cách mạng cộng sản đều đưa tới việc tập trung tài sản vào tay một nhóm người, tức là Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản. Họ toàn quyền sử dụng các tài sản quốc gia, và họ chia lợi tức cho những người khác theo các quy luật họ đặt ra. Ðảng Cộng Sản kiểm soát tất cả các phương tiện sản xuất, việc phân phối do họ quyết định, chia cho ai bao nhiêu người đó được hưởng. Ðến khi thay đổi nền kinh tế, chúng ta thấy các đảng Cộng Sản bắt đầu nhả bớt quyền sở hữu tập trung đó, trao bớt các tài sản lại cho người dân sử dụng. Coi như xóa bài, bầy lại. Khi đó, giống như đang đánh bài cào đổi sang chơi cờ tướng, tất cả luật chơi đều thay đổi. Luật chơi thay đổi như thế nào, có thay đổi thật hay không, sẽ sinh ra các hậu quả khác nhau.
Ở các nước Ðông Âu cựu cộng sản kể trên, người ta lấy ngay luật chơi của các nước dân chủ tự do áp dụng. Có báo chí tự do, lập hội tự do, bầu cử, ứng cử và đảng phái chính trị được tự do. Những luật chơi rất quan trọng là tôn trọng quyền tư hữu và tinh thần trọng pháp, mọi người đều phải sống theo pháp luật. Khi đó, các tài sản được trao lại cho dân thì mọi người dân được quyền sử dụng, được phép tranh đua một cách công bình, trên một sân chơi bằng phẳng.
Ở Trung Quốc và Việt Nam thì không làm như vậy. Ðảng Cộng Sản ở hai nước vẫn đóng vai trò chuyên chế về chính trị, đứng ngoài và đứng trên pháp luật, Không phải chỉ ở cấp trung ương, mà tai hại nhất là ở cấp địa phương. Ở trung ương thì Ðảng chỉ lo nhất là bảo vệ quyền chuyên chính, không cho ai bất đồng ý kiến được nói lên. Không cho tự do báo chí, cấm tự do lập hội, ban hành đủ các sắc lệnh bảo vệ độc quyền chính trị. Họ sợ nhất là có những thế lực mới nổi lên, nhất là thế lực của kim tiền, có thể cạnh tranh với quyền lực của Ðảng. Cho nên họ vẫn nắm chặt lấy các đặc quyền kinh tế. Vì thế lãnh vực tư doanh không được phép phát triển đúng mức, dù do chính các đảng viên kinh doanh. Khi Trung Ương Ðảng ra lệnh rằng từ nay cho tự do kinh doanh, thì đó chỉ là một khẩu hiệu để hô lên thôi. Ðến lúc địa phương áp dụng, họ làm như thế nào là do sáng kiến của họ. Với thói quen cố hữu thời “kinh tế xã hội chủ nghĩa” thì các cán bộ khó lòng mà tôn trọng các quy luật của cuộc chơi thị trường!

Một thứ độc quyền mà đảng Cộng Sản vẫn nắm lấy, từ trên xuống dưới, là quyền tiếp cận và sử dụng các nguồn vốn. Trong kinh tế thị trường, ai được dùng vốn là có cơ hội phát tài. Ðảng Cộng Sản kiểm soát các ngân hàng để đem tiền vốn chung của toàn dân tiết kiệm chuyển đến những nơi, những người nào lọt vào mắt xanh của Ðảng. Tiền của quốc gia, tiền ngoại quốc viện trợ, đều trong tay các đảng viên cao cấp. Cơ chế kiểm soát này làm kinh tế cả nước chậm tiến. Và cảnh chênh lệch giầu nghèo nặng nề hơn. Người nông dân ở huyện Lục Ngạn không có cách nào vay nợ ngân hàng, vì ngay mảnh đất mà họ trồng trọt cũng của nhà nước, nhà nước cho “cấy rẽ” được bao nhiêu năm thì biết bấy nhiêu. Còn các quan chức ở PMU 18 thì thò tay bốc tiền lúc nào cũng được, tiền chùa cả! Làm sao cảnh bất công không diễn ra?
Còn rất nhiều thứ khác trong cơ chế cai trị khiến cho ở Trung Quốc và Việt Nam cảnh chênh lệch giầu nghèo sẽ càng ngày càng tệ hơn. Những cơ chế đó đều do độc quyền chính trị của đảng Cộng Sản. Không phải người Hungary, người Chếch, người Ba Lan tử tế với nhau hơn người Việt Nam hoặc người Trung Hoa cho nên xã hội họ không bất công bằng. Chính cơ chế độc quyền độc đảng tạo nên bất công xã hội. Ðã thay đổi luật chơi thì nên thay đổi hẳn. Kinh tế thị trường phải đi đôi với chế độ tự do dân chủ. Nếu không thì chỉ tạo điều kiện cho một thiểu số làm giầu mà thôi! (Người Việt, Friday, August 10, 2007)
Ngô Nhân Dụng



