Thiền Sư Nhất Hạnh: Không Làm Chính Trị Nhưng Chọn Thái Độ Chính Trị

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Gần 40 năm xa quê hương, không có dịp sống trực tiếp dưới chế độ Cộng sản Việt Nam (CSVN), Thiền sư (TS) Nhất Hạnh không thể chứng kiến được tận mắt những hành động và chính sách đàn áp tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam. Do đó, nhiều người Việt nghĩ rằng: “TS Nhất Hạnh chắc là vì “ngây thơ chính trị” cho nên bị CSVN lợi dụng, dù cái tâm, cái đức nhà Phật của Thiền sư là điều đáng kính, không có gì đáng nghi ngờ.”

Phải chăng TS Nhất Hạnh muốn dùng cái tâm, cái đức nhà Phật để cải huấn, sửa đổi những người Cộng sản? Nhưng nhiều người cũng đặt câu hỏi là liệu TS Nhất Hạnh có đủ cái dũng trong “bi, trí, dũng” của nhà Phật để trực tiếp vạch ra những sai lầm của chế độ CSVN về mặt tôn giáo và nhân quyền. Còn nếu nói rằng TS Nhất Hạnh muốn “âm thầm, kín đáo” góp ý, trao đổi với chính quyền Hà Nội để những mong “cải tạo” những con người Cộng sản thì lại càng cho thấy: a) Thiền sư bị chính quyền CSVN lợi dụng cho mục tiêu tuyên truyền, và/hoặc b) Thiền sư chọn thái độ và hành động “hợp tác chính trị” với CSVN, dù cho rằng mình không làm chính trị. Cả hai lựa chọn trên đều có thể xảy ra trong trường hợp này. Lý do đơn giản là ngay cả lúc TS Nhất Hạnh ở hải ngoại trong gần 40 năm trời nhưng rất hiếm khi cộng đồng người Việt hải ngoại được nghe thấy những cử chỉ hiệp thông hay những lời lên tiếng ủng hộ các nhà lãnh đạo tôn giáo khác nhau, hay các tu sĩ thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất v.v… bị đàn áp, khủng bố thể xác và tinh thần tại Việt Nam.

Điều được nghe nhiều lần qua những cuộc phỏng vấn của TS Nhất Hạnh kể từ lúc về Việt Nam đến nay là Thiền sư muốn tách vấn đề chính trị ra khỏi các vấn đề khác như tôn giáo, nhân quyền v.v… vì cho rằng chính trị là vấn đề của các chính trị gia, Thiền sư chỉ muốn nói về tôn giáo mà thôi. Nhưng khổ nỗi, vấn đề chính trị, những quyết định “chính trị” của chính quyền CSVN đã đè nặng lên toàn bộ cục diện tôn giáo hiện nay. Không hiểu TS Nhất Hạnh sẽ giải thích ra sao khi các nhà chính trị đàn áp các nhà lãnh đạo tôn giáo? Việc TS Nhất Hạnh chọn giải pháp, thái độ và lý luận muốn tách bạch chính trị ra khỏi tôn giáo hiện nay phải chăng chỉ thể hiện sự lẫn trốn trách nhiệm, hay nói cách khác là chính TS Nhất Hạnh đang “làm chính trị” đối với vấn đề tôn giáo?

Xin sơ lược lại những phản ứng điển hình của các nước Âu Châu và Hoa Kỳ về tình hình đàn áp tôn giáo tại Việt Nam để cùng nhau thấy rằng tại sao người Việt trong và ngoài nước cũng cần bày tỏ một thái độ chính trị cương quyết trong vấn đề này.

- Vào cuối tháng 11/2003, Quốc hội Hoa Kỳ và Quốc hội Âu châu ra hai bản Nghị quyết tố cáo chính quyền CSVN đàn áp Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất.
- Tháng 9/2004, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chính thức liệt kê Việt Nam vào danh sách “Các Quốc Gia Cần Đặc Biệt Quan Tâm” (Country of Particular Concern), vì những chứng cớ đàn áp tôn giáo liên tục và có hệ thống tại Việt Nam; quyết định này được gia hạn đến ngày 15/3/2005 sắp tới đây. Đặt trường hợp chính quyền CSVN không thay đổi chính sách tôn giáo thì các biện pháp chế tài sẽ được áp dụng theo Ðạo Luật Tự Do Tôn Giáo Trên Thế Giới được thông qua tại Quốc Hội Hoa Kỳ năm 1998.
- Đầu tháng 10/2004, tại Hội nghị Thượng đỉnh Âu-Á ASEM tổ chức ở Việt Nam, hơn 100 vị Dân biểu Quốc hội Châu Âu đã gởi thư yêu cầu Liên Hiệp Châu Âu đưa vấn đề đàn áp tôn giáo và nhân quyền ra thảo luận với chính quyền CSVN, đồng thời lên tiếng yêu cầu trả tự do cho Đệ Tứ Ðức Tăng Thống Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ và tất cả các tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị tại Việt Nam.

Nhìn lại chuyến viếng thăm Việt Nam 3 tháng hiện nay của TS Nhất Hạnh, chúng ta có thể đưa ra những nhận định căn bản như sau:

Thứ nhất, TS Nhất Hạnh không có vai trò và trách nhiệm đại diện cho Phật Giáo Việt Nam trong hay ngoài nước, càng không thể đại diện cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, giới Phật tử, và các tôn giáo khác đã và đang bị chính quyền CSVN đàn áp và kiềm kẹp trong suốt thời gian qua.

Thứ nhì, dù vô tình hay cố ý, TS Nhất Hạnh đã bị chính quyền CSVN lợi dụng làm công cụ tuyên truyền về tự do tôn giáo qua những tuyên bố “lấy lòng chính quyền” của Thiền sư và sự im lặng lâu nay của Thiền sư trước vấn nạn đàn áp tôn giáo tại quê nhà.

Thứ ba, dù ra sức tuyên truyền nhưng chính quyền CSVN không thể che giấu những chính sách và hành động đàn áp tôn giáo trong nhiều năm qua. Pháp Lệnh Tôn Giáo do CSVN đưa ra chỉ cho phép các giáo hội được chính quyền công nhận và kiểm soát thì mới được hoạt động, càng cho thấy bản chất chuyên chế, kiềm kẹp của chính quyền đối với tôn giáo nói chung.

Thứ tư, công cuộc đấu tranh lâu dài cho quyền tự do tôn giáo và nhân quyền nói chung tại Việt Nam không phải là chuyện cá nhân của các nhà tu hành mà là công việc chung của toàn dân, trong và ngoài nước, tôn giáo hay không tôn giáo, chính trị gia hay chỉ là thường dân. Mỗi hành động và quan điểm của từng cá nhân người Việt đối với tôn giáo và nhân quyền, dù được biện minh bằng bất cứ lý do hay chính kiến nào, đều có ảnh hưởng ít nhiều đến tiến trình đấu tranh chung vì nhân quyền và dân chủ tại Việt Nam.

Tóm lại, những quan điểm của TS Nhất Hạnh thoạt nghe có vẻ trung dung và vô can đối với tôn giáo nhưng việc Thiền sư chọn thái độ “không chính trị” trước tình trạng tôn giáo đang bị đàn áp và khống chế bởi một thể chế chính trị chuyên chế, độc tài tại Việt Nam hiện nay đã đủ cho thấy rõ ràng một quan điểm và thái độ “rất chính trị” của Thiền sư. Chuyến đi về Việt Nam của TS Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai xẩy ra trong lúc Ðức Tăng Thống Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ, Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh cùng các Thượng Tọa như Thích Tuệ Sỹ, Thích Viên Ðịnh, Thích Thanh Huyền, Thích Nguyên Lý, Thích Hải Tạng v.v… đang tiếp tục bị giam cầm, quản chế ngay trên chính quê hương mình, giúp minh chứng cho Thiền sư và quý Phật tử khắp nơi trên thế giới về vấn nạn đàn áp tôn giáo tại quê nhà. Vấn đề quan trọng là mỗi con dân Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, có tôn giáo hay không tôn giáo, làm chính trị hay không làm chính trị, đều chọn cho mình một thái độ và quan điểm chính trị dứt khoát và đầy quyết tâm trước quốc nạn tôn giáo này. (Đ.V.)

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”