Từ cột mốc biên giới đến cung hữu nghị Việt Trung

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Chiều ngày 30 tháng 11 vừa qua tại Hà Nội, ông Cao Viết Sinh, thứ trưởng thường trực bộ kế hoạch và đầu tư Cộng sản Việt Nam và ông Lỗ Kiến Hoa, trợ lý Bộ trưởng Bộ thương mại Trung Quốc đã ký một công văn liên quan đến dự án xây dựng Trung Tâm Hữu Nghị Việt Trung tại Hà Nội. Dự án này do Trung Quốc tài trợ không hoàn lại (tức là cho không) trị giá 30 triệu Mỹ Kim. Theo ông Lỗ Kiến Hoa thì đây là dự án hợp tác lớn nhất của Bắc Kinh dành cho Hà Nội trong hơn ba thập niên vừa qua và cũng để đánh dấu cái gọi là 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt cộng và Trung cộng (18/1/1950 – 18/1/2010).

Dư luận tại Hà Nội không tin vào các phát biểu của ông Lỗ Kiến Hoa vì cho rằng việc Bắc Kinh đã tặng không cho Hà Nội 30 Triệu Mỹ Kim để xây dựng Trung Tâm Văn Hóa vào dịp này chỉ là che đậy một thủ đoạn khác. Người ta cho rằng Bắc Kinh tặng 30 triệu Mỹ Kim cho Hà Nội là để “thưởng công” vì đã hoàn tất việc cắm cột mốc biên giới phía Bắc mà hai phía đã tiến hành trong gần 2 thập niên vừa qua, kế từ khi ông Lê Khả Phiêu chỉ thị cho Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam phải nhượng bộ các đòi hỏi của Bắc Kinh để ký Hiệp ước biên giới trên đất liền vào cuối năm 1999.

Qua Hiệp ước biên giới năm 1999, Cộng sản Việt Nam đã nhượng cho Trung Quốc 700 cây số vuông đất biên giới; trong đó có hai kỳ tích quan trọng của Việt Nam là ải Nam Quan và Thác Bản Dốc nay đã thuộc về Trung Quốc. Việc công bố số tiền 30 Triệu Mỹ Kim mà Bắc Kinh cho Hà Nội để xây Trung Tâm Văn Hóa, xảy ra 10 ngày sau khi hai bên đã ký kết ba văn kiện rất quan trọng, đánh dấu hoàn tất việc cắm 1971 cột mốc biên giới (gồm 1378 cột chính và 593 cột phụ) trên đoạn đường 1,400 cây số biên giới giữa hai nước ở phía Bắc. Ba văn kiện này có tên là Nghị định thư về phân giới cắm mốc, Hiệp định quy chế quản lý biên giới Việt Trung, Hiệp định về cửa khẩu và quản lý cửa khẩu trên biên giới đất liền Việt Nam và Trung Quốc.

Cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh đã sử dụng bộ máy tuyên truyền để “ca ngợi” về chiến công “thống nhất” được con đường biên giới phía Bắc giữa hai nước. Đồng thời để trấn an dư luận, Hà Nội đã cho chiếu lại một số phát biểu của Thứ Trưởng ngoại giao Vũ Dũng hồi tháng 12 năm 2008 khi hai phía hoàn tất việc cắm cột mốc rằng: Việt Nam không mất một thước đất nào cho Trung Quốc. Tuy nhiên cho đến nay, Hà Nội vẫn không thể trả lời tại sao qua Hiệp ước mới này, Ải Nam Quan và Thác Bản Dốc lại nằm về phần đất của Trung Quốc?

Đổi 700 cây số vuông biên giới và hai kỳ quan của dân tộc (Ải Nam Quan và Thác Bản Dốc) để lấy 30 Triệu Mỹ Kim cho thấy lãnh đạo Hà Nội không những mang tội bán nước, mà còn cố tình dối gạt dư luận và cả những người đảng viên đi theo họ, khi không dám công bố toàn bộ nội dung Hiệp ước về biên giới đã ký với Bắc Kinh vào năm 1999.

Trước khi Trung Quốc công bố việc tặng 30 triệu Mỹ Kim xây dựng Trung Tâm Hữu Nghị tại Hà Nội, Cộng sản Việt Nam đã chấp thuận cho Trung Quốc xây dựng một số thí điểm Học Viện Khổng Tử ở Việt Nam hồi tháng 4 năm 2009. Đây là những trung tâm truyền bá tư tưởng và văn hóa Trung Quốc tại Việt Nam. Những động thái này cho chúng ta nhận diện một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất là sau khi dụ được Lê Khả Phiêu để ký Hiệp ước biên giới, Trung Quốc đã từng bước hợp thức hóa sự xâm chiếm của họ trên 700 cây số vuông biên giới qua cái gọi là những đàm phán cột mốc kéo dài từ năm 2001 đến tháng 12 năm 2008. Sau khi hoàn thành xong việc cắm cột mốc thì từ đầu năm nay, Trung Quốc bắt đầu biểu lộ những hành động bá quyền trên Biển Đông: Ra lệnh cấm đánh cá trên một diện tích 130 ngàn cây số vuông của Biển Đông (chiếm 75% diện tích Biển Đông bao gồm cả thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam) từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 8 hàng năm; bắt giữ và đánh đập hàng trăm ngư dân Việt Nam đánh cá trên vùng biển của đất nước mình nơi họ đã từng đánh cá từ hàng chục thập niên qua. Đáng lý ra Hà Nội phải mạnh miệng lên tiếng chống Trung Quồc về những động thái nói trên nhưng họ lên tiếng rất yếu ớt và lên tiếng lấy lệ.

Thứ hai là khi xảy ra xung đột giữa hải quân Trung Quốc và hải quân Hoa Kỳ gần đảo Hải Nam vào đầu tháng 3 năm nay, để lôi kéo Cộng sản Việt Nam không hùa theo Hoa Kỳ và các nước Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân trong vụ này, Bắc Kinh đã cấp tốc cho Cộng sản Việt Nam vay ưu đãi dài hạn (chừng nào có tiền mới trả) khoảng 300 triệu Mỹ Kim nhằm giải quyết những khó khăn tài chính do sự sụp đổ hệ thống tài chánh của Hoa Kỳ hồi tháng 11 năm 2008. Nhờ sự cho vay ưu đãi của Bắc Kinh, Hà Nội đã có thể cầm cự nền kinh tế trong mấy tháng đầu năm. Trong khi đó, theo các số liệu của Tổng Cục Thống Kề Cộng sản Viêt Nam thì cán cân mậu dịch giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc trong năm 2008 chênh lệch rất xa. Trung Quốc đã nhập từ Việt Nam một lượng hàng hóa trị giá 5,6 tỷ Mỹ Kim; trong khi Cộng sản Việt Nam nhập từ Trung Quốc một lượng hàng hóa lên đến 16 tỷ Mỹ Kim – chênh lệch hơn 10 tỷ Mỹ Kim. Hiện chưa có một bản kết toán chi tiết, nhưng các chuyên gia quốc tế cho rằng mức nhập siêu của Cộng sản Việt Nam trong năm nay – 2009 – không thua gì năm 2008. Nghĩa là nền kinh tế của Việt Nam tiếp tục bị hàng hóa Trung Quốc khống chế.

Thứ ba là song song với việc khuyến dụ và hướng dẫn Cộng sản Việt Nam khai thác Bauxite tại vùng Tây Nguyên để cho Trung Quốc chế tạo Nhôm, Bắc Kinh đã xúc tiến xây dựng hai vùng kinh tế bao gồm các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) và Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh (Việt Nam) như một bước thử nghiệm trong việc trao đổi và hợp tác phát triển kinh tế mạnh mẽ hơn với Cộng sản Việt Nam trong hai thập niên tới. Nếu dự án nói trên xúc tiến tốt đẹp, Trung Quốc sẽ mở rộng sự hợp tác kinh tế liên vùng và liên tỉnh thành giữa Trung Quốc và Việt Nam. Nghĩa là ngoài những vùng kinh tế chung giữa hai nước ở các tỉnh phía Bắc, một số tỉnh và thành phố của Trung Quốc như Thượng Hải, Bằc Kinh, Thành Đô, Tứ Xuyên… sẽ hợp tác phát triển kinh tế với những thành phố khác như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ … của Việt Nam.

Những diễn tiến nói trên cho thấy là Bắc Kinh, từ năm 1991 cho đến nay đã đưa Hà Nội vào trong vòng khống chế một cách có kế hoạch. Trung Quốc đã không cần mang quân đội và người của họ vào Việt Nam chiếm đóng như dưới thời Bắc Thuộc, họ đã núp dưới những chiêu bài giải quyết xung đột biên giới, hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa, phát triển hữu nghị để qua đó buộc lãnh đạo CSVN phải tự khép mình vào trong vòng ảnh hưởng của Bắc Kinh. Trong chuyến viếng thăm Tứ Xuyên hồi tháng 10 vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Hợp tác đối tác toàn diện với Trung Quốc là chính sách nhất quán của Việt Nam”. Phát biểu của ông Dũng đã nói lên tất cả sự tự nguyện khép mình của Hà Nội vào trong vòng tay của Bắc Kinh.

Nhu cầu bành trướng thế lực, tìm thị trường tiêu thụ, tìm đất đai cư trú, canh tác và nuôi sống cho hơn 1 tỉ người (có ước tính con số thật là gần 2 tỉ người), nhu cầu khai thác tài nguyên đã khiến Bắc Kinh trở thành một mối đe dọa trầm trọng cho Việt Nam nói riêng và toàn vùng Á Châu nói chung. Mối đe dọa này cộng thêm bản chất ươn hèn, qụy lụy quan thầy của Hà Nội để giữ vững ngai vàng quyền lực, đã đặt nước ta vào hiểm họa Bắc thuộc với những mưu mô, trá hình và xảo ngôn của thời đại mới.

Đánh dấu 60 năm quan hệ Việt Trung vào ngày 18 tháng 1 năm 2010 tới đây, Việt Nam sẽ chính thức bước vào thời kỳ Bắc Thuộc với Trung Tâm Hữu Nghị Viêt Trung mà Thái Thú của Bắc Triều không ai khác là các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang.

Chừng nào dân ta mới khởi nghĩa giành lại độc lập dân tộc như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo đã làm?

Trung Điền
Ngày 2/12/2009

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.