Về Cuộc Vận Động Dân Chủ Tại Việt Nam

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
GIF - 34.2 kb

Cuộc đấu tranh để xây dựng một thể chế chính trị tự do và dân chủ trong một đất nước độc lập và phú cường, đã được dân tộc Việt Nam theo đuổi từ nhiều thập niên qua, kể từ khi người Pháp bắt đầu cuộc xâm lăng và đặt nền đô hộ trên đất nước Việt Nam từ năm 1858 cho đến nay. Trong gần 150 năm vừa qua, các thế hệ Việt Nam đã không ngừng tranh đấu dưới nhiều hình thức và cũng đã trải qua nhiều giai đoạn nghiệt ngã với những hy sinh vô bờ bến. Cuộc đấu tranh đã trở nên cam go và khốc liệt khi đảng Cộng sản Việt Nam đã thôn tính miền Nam Việt Nam bằng vũ lực vào tháng 4 năm 1975. Bằng một chính sách cai trị hà khắc và đàn áp khốc liệt đối với quân cán chính miền Nam Việt Nam, đảng Cộng sản Việt Nam đã biến đất nước Việt Nam thành một trại tù khổng lồ. Trại tù này tuy có biến dạng đôi chút sau năm 1986, khi đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu mở cửa, đổi mới kinh tế và nhất là vận động đầu tư ngoại quốc để cứu nguy sự sụp đổ; nhưng về căn bản vẫn là quốc gia độc tài. Mọi sinh hoạt căn bản của người dân như tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do tư tuởng, tự do bầu cử và ứng cử… đều bị đảng Cộng sản Việt Nam khước từ, thay vào đó là sự kiểm soát và khống chế toàn diện của đảng và nhà nước.

JPEG - 3.5 kb

Vì không chấp nhận tình trạng cai trị hà khắc và tước đoạt mọi quyền căn bản của con người, dân tộc Việt Nam đã đứng lên đấu tranh. Đây là cuộc đấu tranh của tập thể nhân dân bị trị vùng lên chống lại một thiểu số thống trị là đảng Cộng sản Việt Nam, nên nó có chính nghĩa vì đáp ứng lòng mong đợi của toàn thể nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài Việt Nam. Đây không phải là một cuộc chiến tranh vì khi nói đến chiến tranh tức là nói đến hai lực lượng đối đầu với súng ống, đại pháo và xe tăng. Trong khi đó, cuộc đấu tranh để chấm dứt ách độc tài Cộng sản Việt Nam hoàn toàn không dựa vào súng ống, đại pháo mà dựa vào lòng căn phẫn của người dân đối với chế độ Hà Nội. Nếu sức mạnh của chiến tranh đến từ nòng súng thì sức mạnh của cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ của người Việt Nam hiện nay đến từ lòng căm phẫn độc tài và ý chí xây dựng tự do của toàn thể dân tộc. Vì thế nền tảng của công cuộc đấu tranh hiện nay chính là cuộc vận động dân chủ, dưới hình thái của đấu tranh bất bạo động.

JPEG - 73.5 kb

Những cuộc biểu tình khiếu kiện đòi trả lại ruộng đất của dân oan tại các tỉnh miền Bắc và miền Nam, đặc biệt là cuộc biểu tình liên tục trong 27 ngày của dân oan thuộc 18 tỉnh miền Nam kéo dài từ ngày 22 tháng 6 đến 18 tháng 7 năm 2007, trước văn phòng II quốc hội Cộng sản Việt Nam tại Sài gòn là một hình thái của đấu tranh bất bạo động và đang làm cho lãnh đạo Hà Nội lúng túng giải quyết. Hàng trăm cuộc đình công của công nhân đòi tăng lương, đòi cải thiện cuộc sống tại các xí nghiệp liên doanh và quốc doanh, kéo dài từ cuối năm 2005 cho đến ngay hôm nay cũng là một dạng của đấu tranh bất bạo động, tạo áp lực buộc lãnh đạo Hà Nội phải thay đổi các chính sách về dân sinh. Những cuộc biểu tình này tuy không trực tiếp tạo ra những thay đổi chính trị nhưng góp phần làm suy yếu tiềm lực thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam, hỗ trợ cho những lực lượng đối kháng liên kết với nhau, làm bùng phát phong trào dân chủ, tạo thế đối trọng với đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình đấu tranh giành lại tự do dân chủ cho dân tộc Việt Nam.

Do đó cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam không đi ra ngoài khuôn khổ của sự tập hợp giữa các lực lượng đấu tranh, nhằm tác động và điều hướng các thành phần nông dân, công nhân, sinh viên, phụ nữ, văn nghệ sĩ…. cùng đứng lên đấu tranh và kiên quyết đòi đảng Cộng sản Việt Nam phải thực thi những quyền căn bản của con người trên một đất nước thật sự tự do, dân chủ.

Lý Thái Hùng

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cơ quan quản lý cước phát thanh truyền hình GEZ, Đức. Ảnh: FB Tho Nguyen

Truyền thông độc lập (bài 2)

Sau 1945 người Đức coi truyền thông nhà nước là cái ổ tiềm ẩn cho chế độ độc tài. Khi xây dựng hiến pháp, bên cạnh việc phân chia đất nước theo thể chế liên bang, kiểm soát quyền lực bằng tam quyền phân lập người ta cũng xóa bỏ các đài phát thanh và truyền hình nhà nước, lập ra hệ thống phát thanh và truyền hình công cộng. Chính quyền từ địa phương đến liên bang bị cấm không được lập cơ quan truyền thông để tự tuyên truyền cho mình… Tư nhân vẫn có quyền làm báo, in ấn, lên sóng phát thanh, truyền hình, điện ảnh, sân khấu.

Ảnh minh họa: VNTB

Từ luật sư đến bác sĩ: Cải cách thủ tục hay gia tăng kiểm soát?

Nếu mục tiêu chỉ là cải cách thủ tục, tại sao phải trao thêm cho chủ tịch xã, trưởng Công an xã quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư – một thứ vốn do Bộ Tư pháp và các thiết chế chuyên môn giám sát?

Nếu mục tiêu chỉ là giảm tải cho Bộ Y tế, tại sao không củng cố các hội đồng y khoa độc lập, mà lại giao trọn quyền cấp, thu hồi giấy phép bác sĩ cho chủ tịch tỉnh?

Đó không còn là chuyện “rút ngắn quy trình,” mà là chuyện ai được cầm chìa khóa nơi vận hành cả hệ thống.

Nhân viên đài phát thanh Tiệp biểu tình phản đối việc nhà nước hóa truyền thông công cộng

Truyền thông độc lập (bài 1)

Trong tháng Hai 2026, chính phủ cánh hữu (Tiệp – nước Cộng hòa Séc) của Thủ tướng Babis đã quyết định: Từ 2027 các đài phát thanh truyền hình công cộng sẽ không sống vào tiền cước phí truyền hình do dân đóng, mà sẽ được cấp bởi ngân sách nhà nước, lấy từ tiền thuế.

Người Việt sẽ bảo: Thế thì sao lại phản đối? Dân sẽ đỡ phải đóng cước phí truyền thông, trong khi nhà đài vẫn được nhà nước chu cấp cơ mà?

Ngày càng nhiều người Việt Nam, Trung Quốc thuộc tầng lớp trung lưu hoặc giàu có tìm cách rời nước ra đi định cư ở các nước khác, mang theo hàng triệu đô la. Ảnh: AI

Tầng lớp trung lưu Việt Nam và Trung Quốc trước làn sóng tập quyền

Trong các hệ thống chính trị tập quyền, nỗi lo lắng không phân bổ đều cho tất cả mọi người. Người nghèo thường đã quen với sự bất định; giới tinh hoa chính trị thì có đủ quan hệ để tự bảo vệ. Nhưng tầng lớp ở giữa – những người đã tích lũy được tài sản, học vấn và vị thế xã hội nhờ vào một thời kỳ tăng trưởng kinh tế chưa từng có – lại đứng trước một nghịch lý đau đớn: Họ có đủ để mất, nhưng không đủ quyền để được bảo vệ.

Đây chính là tình trạng của tầng lớp trung lưu ở Việt Nam và Trung Quốc ngày nay…