Việt Cộng và Cái Ghế Không Thường Trực Hội Đồng Bảo An LHQ

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
JPEG - 78.5 kb

Sau hơn 10 năm (1997-2007) liên tục vận động để mong các thành viên của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu bầu vào làm thành viên không thường trực trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, Cộng sản Việt Nam đã toại nguyện vì giành được 183 phiếu trong tổng số 192 nước thành viên bỏ phiếu cho Hà Nội, vào tối ngày 16 tháng 10 vừa qua. Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc có 15 ghế thành viên chia làm hai nhóm: Nhóm những quốc gia thường trực gồm năm nước: Nga, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Anh và Pháp có quyền lực tuyệt đối trong các biểu quyết. Nhóm những quốc gia không thường trực gồm 10 nước có nhiệm kỳ 2 năm và cứ mỗi năm bầu lại 5 quốc gia theo khu vực, không có nhiều quyền lực như nhóm 5 quốc gia thường trực và thường có tính biểu kiến trước những biểu quyết quan trọng của thế giới vì luôn luôn bị chi phối bởi phiếu của năm quốc gia Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nga, Pháp và Anh.

Mặc dù trách nhiệm của một thành viên không thường trực trong Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc không có nhiều, nhưng sự kiện Cộng sản Việt Nam trở thành 1 trong 10 quốc gia giữ ghế không thường trực trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc sau 30 năm (1977-2007) gia nhập Liên Hiệp Quốc, cho thấy là trong vòng hai năm qua, Hà Nội đã tạo được mối liên hệ mới với thế giới sau khi gia nhập WTO và đăng cai tổ chức Hội Nghị APEC vào năm 2006. Tuy các quan hệ đối ngoại được gia tăng nhưng xét về mặt thực chất thì Hà Nội chưa có khả năng đáp ứng, nhất là khả năng ứng xử những vị trí cần thiết của các tổ chức quốc tế liên hệ.

JPEG - 55.6 kb

Sự bất cập trước tiên của Hà Nội là khả năng hiểu biết và thi hành những nguyên tắc và luật lệ chung của các cơ quan quốc tế. Trong vị trí phân giải và đưa ra những quyết định tối hậu của một thành viên Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trước các vấn đề nóng bỏng của nhân loại như các vấn đề hòa bình, an ninh khu vực, xung đột lãnh thổ, người ta không những không thấy Hà Nội có khả năng đáp ứng mà còn có thể gây ra những trở ngại cho các quốc gia thành viên, vì bản chất sử dụng luật rừng của Hà Nội. Mặc dù Hà Nội cố khoe là họ đã giao cho quốc hội sáng chế hàng trăm bộ luật đủ loại trong hơn một thập niên vừa qua, nhưng nội dung của các bộ luật này đều là để củng cố bộ máy chuyên chính của đảng Cộng sản Việt Nam hơn là để tái tổ chức xã hội Việt Nam theo khuôn khổ chung của quốc tế. Ngay cả việc Cộng sản Việt Nam đã từng thổi phồng viễn cảnh màu hồng sau khi gia nhập WTO; nhưng hơn 6 tháng tham gia vừa qua, Việt Nam vẫn không có một nhúc nhích gì về mặt cải thiện luật lệ và đáp ứng các đòi hỏi của tổ chức WTO. Trong khi đó, nạn bưng bít thông tin và hành xử luật rừng đã tiếp tục kéo Việt Nam rơi vào vị trí tận cùng của 20 quốc gia có nền hành chánh tham nhũng nhất hiện nay trên thế giới.

Sự bất cập thứ hai của Hà Nội là bản chất nô lệ trong đường lối đối ngoại của đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập cho đến nay. Luôn luôn đi tìm nước đỡ đầu hay chỗ dựa để giúp củng cố quyền lực ở bên trong, lãnh đạo Hà Nội đã từng dựa theo Liên Xô trong một thời gian dài cho đến năm 1990, rồi Trung Quốc sau năm 1991 và đang đu giây giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc từ năm 2001 trở đi. Với bản chất nô lệ như vậy, Hà Nội không dám lấy quyết định theo quan điểm riêng mà sẽ luôn luôn bị kéo đi theo một khuynh hướng nào đó đang tìm cách chi phối lên những ứng xử của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc hay của một cơ quan quốc tế nào. Nhìn vào những quan hệ gần đây của Hà Nội đối với Trung Quốc và Hoa Kỳ và nhất là các chuyến công du ngoại quốc của Thủ tướng Cộng sản Nguyễn Tấn Dũng, người ta thấy là từ tháng 4 năm 2006 trở đi, Dũng luôn luôn chọn cách viếng thăm các quốc gia theo kiểu nước đôi: Lúc thì chọn đi Mỹ và Pháp, lúc thì chọn đi Trung Quốc và Ấn Độ, lúc thì chọn đi Nga và Ba Lan & Tiệp… để làm hài lòng các phía vốn có những tương tranh ngấm ngầm với nhau. Không ai đòi hỏi Nguyễn Tấn Dũng phải làm điều này nhưng rõ ràng là phía Hà Nội đã muốn làm hài lòng tất cả, hầu chuẩn bị những chỗ dựa cho tương lai.

JPEG - 109.1 kb

Bất cập thứ ba của Hà Nội là nỗi ám ảnh ’diễn biến hòa bình’ từ những thế lực mà Hà Nội gọi là ’thế lực thù địch từ bên ngoài’. Nếu một quốc gia có chủ quyền vững chãi và có luật pháp nghiêm minh, chính quyền của những quốc gia này luôn luôn được đối xử bình đẳng trong cộng đồng thế giới và không lo sợ ’ diễn biến hòa bình’. Chỉ có những quốc gia coi người dân của mình là kẻ thù giai cấp, hành xử luật rừng để khống chế, đàn áp các tiếng nói đối lập thì lãnh đạo mới luôn luôn sống trong ác mộng bị lật đổ. Chính vì những ám ảnh này, Hà Nội và những quốc gia độc tài luôn luôn có những ứng xử ngược đời và do đó không thể nào chu toàn những trách vụ mà cộng đồng thế giới giao phó.

Nói tóm lại, việc Cộng sản Việt Nam trở thành thành viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trong hai năm 2008 và 2009, sẽ không làm cho chế độ mạnh hơn mà trái lại, chính những ràng buộc của các quy luật quốc tế và những trách nhiệm cần có của một thành viên trong Hội đồng, Hà Nội sẽ phải bị ’cải hóa’ và trực diện rất nhiều rủi ro do những bất cập như đã phân tích bên trên.

Trung Điền
Oct 18 2007

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”

Ảnh minh họa

Tầng lớp trung lưu mới và bẫy thu nhập trung bình cao

Khảo sát bỏ túi gần đây của báo Thanh Niên về câu chuyện của anh Hoàng Việt – một nhân viên IT 40 tuổi tại TP.HCM – là một lát cắt vô cùng sống động phản ánh hành trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam suốt nhiều thập niên qua. Từ mức kỳ vọng ban đầu chỉ là một công việc ổn định với mức lương 15 – 20 triệu đồng/tháng, sau 13 năm, anh Việt đã có thể kiếm được gần 100 triệu đồng mỗi tháng nhờ sự năng động, làm thêm nghề tay trái và đầu tư vào đất đai, chứng khoán.

Hành hung người dẫn đến tử vong sau vụ va chạm xe ở Tây Ninh, tháng 1/2026. Ảnh: Báo Dân Việt

Sức mạnh của một dân tộc bắt đầu từ cách con người đối xử với nhau

Một xã hội chỉ thực sự văn minh khi con người biết giải quyết bất đồng bằng lý trí và pháp luật. Nếu phản ứng đầu tiên trước mâu thuẫn luôn là sự giận dữ, lời lẽ xúc phạm hay bạo lực, thì sự phát triển về kinh tế cũng khó có thể bù đắp cho những tổn thương trong đời sống xã hội.