21 năm sau trận hải chiến Trường Sa

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 19 tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa. Ngay ngày hôm sau, tổng thống Việt Nam Cộng Hoà lúc đó là ông Nguyễn Văn Thiệu, đã gửi thư đến nguyên thủ những quốc gia tham dự hiệp định Paris năm 1973 tố cáo việc lấn chiếm này, và yêu cầu những nước đó can thiệp, như tinh thần của hiệp định Paris đã nêu lên. Đồng thời chính phủ Việt Nam Cộng Hoà tung ra cuốn bạch thư, với đầy đủ chứng cớ lịch sử, xác định chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như tố cáo sự xâm lược của Trung Quốc trên các diễn đàn quốc tế. Trong khi đó thì các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn im lặng. Một thái độ được xem như mặc nhiên đồng tình với sự lấn chiếm của Trung Quốc như đã từng đồng tình qua bức công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958. Tận dụng thái độ đồng tình làm ngơ đó của Hà Nội, mười bốn năm sau khi chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc tiếp tục lấn chiếm Trường Sa. Xem như đó là những hải đảo của họ bị Việt Nam tạm chiếm, mà họ phải thu hồi về, theo đúng tinh thần bức công hàm Phạm Văn Đồng. Trong đó, chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ủng hộ lãnh hải của Trung Quốc bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trận hải chiến Trường Sa đã xẩy ra ngày 14-3-1988. Trong khi máu của các chiến sĩ Hải Quân Nhân Dân hoà cùng nước biển Đông để bảo vệ những hải đảo của tổ quốc, thì lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục giữ thái độ im lặng khiếp nhược trước kẻ thù xâm lược.

Trong bài bút ký nhan đề “Một Trang Sử Anh Hùng, Một Thời Kỳ Nhục Nhã”, gửi cho đài Chân Trời Mới vào mùa thu năm ngoái, một sĩ quan cao cấp của Hải Quân Nhân Dân đã từng tham dự trận hải chiến Trường Sa, qua bút hiệu Phạm Trung Trực, đã kể lại tình hình vô cùng căng thẳng tại vùng biển Trường Sa từ cuối năm 1986, với những vụ gây hấn, lấn chiếm của Trung Quốc, nhưng lãnh đạo Hà Nội vẫn một mực câm nín ra sao. Tác giả Phạm Trung Trực cho biết: “Bộ Tư Lệnh hải quân liên tục báo cáo lên trên xin ý kiến chỉ đạo. Một trong những nội dung đề nghị cấp trên giải đáp ngay: Trung Quốc là bạn hay thù. Chúng đánh ta, ta có đánh trả không? Cấp trên vẫn im lặng hoặc trả lời không rõ ràng. Đau đớn thay cho Tổ Quốc ta, chính vào thời điểm đó, trong lúc bọn bành trướng Bắc Kinh đã lộ rõ dã tâm xâm lược thì lãnh đạo đất nước với sự thao túng của Lê đức Anh, Ủy viên Bộ Chính Trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đang tìm cách bắt tay với lãnh đạo Trung Quốc để âm mưu thực hiện cái gọi là “Giải pháp đỏ” ở Căm pu Chia…”.

JPEG - 4.7 kb
Thiếu úy hải quân QĐND Trần Văn Phương và vợ. Hình chụp trước khi ra bảo vệ quần đảo Trường Sa năm 1988.

Qua bút ký này, bên cạnh tình hình tổng quát, tác giả Phạm Trung Trực tường thuật một số chi tiết về trận Hải chiến Trường Sa, trong đó có đoạn cảm động như sau: “6 giờ ngày 14-3-1988, bọn Trung Quốc thả 3 thuyền nhôm và 40 quân đổ bộ lên đảo. Bọn Trung Quốc dựa vào thế quân đông tiến đến giật cờ ta. Lập tức thiếu úy Trần Văn Phương, hạ sỹ Nguyễn Văn Lanh cùng đồng đội anh dũng xông lên giành lại cờ.” Trần Văn Phương đã hô to ’Thà hy sinh chứ không chịu mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân anh hùng. Tổ quốc Việt Nam muôn năm’”.

Tác giả Phạm Trung Trực đã sót sa tự hỏi rằng, không hiểu những người lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội có nghe được những tiếng hô thống thiết đó hay không. Với những gì đã diễn ra từ 21 năm qua, một điều có thể khẳng định được là, sự hy sinh của 64 chiến sĩ Hải Quân Nhân Dân ở Trường Sa năm 1988, cũng như của hàng chục ngàn chiến sĩ Việt Nam ở biên giới phía bắc trước đó, đều đã bị lãnh đạo cộng sản phản bội qua những hiệp ước trên đất liền và trên biển mà Hà Nội đã ký kết, dâng nạp thêm cho Bắc Kinh những phần đất phần biển khác của Tổ Quốc. Năm ngoái, khi viết bút ký về trận hải chiến Trường Sa, tác giả Phạm Trung Trực đã ghi lại nỗi niềm cay đắng, có lẽ là của toàn thể dân tộc Việt Nam, như sau: “Thật kỳ lạ, đúng 20 năm sau, lịch sử lại lập lại một trang bi thảm trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Năm 2008 này, khi nhân dân ta, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, sinh viên biểu tình tỏ thái độ phản đối bọn Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa – Trường Sa thì lãnh đạo Đảng vẫn như vô cảm, thậm chí còn cho công an đàn áp dã man, bắt bỏ tù nhiều thanh niên yêu nước dám hy sinh vì Tổ quốc thân yêu”.

Hai mươi mốt năm đã trôi qua, nhưng những tiếng hô thống thiết của Thiếu úy Trần Văn Phương năm nào ở vùng biển Trường Sa như vẫn còn vang vọng đâu đây, nhắc nhở mọi người Việt Nam, đặc biệt là các chiến sĩ trong Quân Đội Nhân Dân, về nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc của con dân nước Việt, chứ không bảo vệ cái đảng đã và đang phản bội lại sự hy sinh của các chiến sĩ đã nằm xuống trên các tuyến đầu của tổ quốc trong sứ mạng bảo toàn lãnh thổ của cha Việt Nam để lại.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Ảnh minh họa: Youtube TDGS

Đối chiếu thanh trừng chính trị: Cách mạng Iran 1979 và Việt Nam sau 1975

Dù có ý kiến gì, cũng không thể phủ nhận rằng cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran 1979 có nhiều điểm tương đồng với  những ngày sau biến cố 30/4/1975 trong việc củng cố quyền lực thông qua thanh trừng và cải tạo tư tưởng của các thế lực cầm quyền.

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.