14 Tháng 9 Năm 1958 – Ngày Đảng CSVN Ký Công Hàm Bán Nước

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Trong cuộc gặp giữa Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng và Phó thủ tướng Trung Quốc Li Xiannian hồi tháng 6, 1977 tại Bắc Kinh, Li nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng “Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc và những điều này có chứng cớ lịch sử để xác định”. Đồng thời cũng nói thêm “trong quá khứ phía Việt Nam đã công nhận điều này”, một cách ám chỉ chính cá nhân Thủ tướng Phạm Văn Đồng. (Beijing Review – May 1979)

Tài liệu không nói rỏ Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã phản bác lại những lập luận của Trung Quốc thế nào để bênh vực chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Tuy nhiên, dư luận có thể hiểu là đảng Cộng sản Việt Nam và đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã không thể chống đỡ nổi luận điệu này vì bị rơi vào thế “há miệng mắc quai”.

Theo Bộ ngoại giao Trung Quốc thì chủ quyền của họ đối với Trường Sa và Hoàng Sa là không thể tranh cải (Beijing Review, Feb 18, 1980). Vì chính Hà Nội, trong các cuộc đàm phán trước kia đã chính thức công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này rồi, vì vậy nếu Hà Nội thay đổi thái độ của họ thì không có cơ sở. Trung Quốc đã đưa ra hai sự kiện cụ thể để làm bằng chứng Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng đồng ý với Trung Quốc về chủ quyền của hai quần đảo đang tranh chấp này.

Sự kiện thứ nhất là vào tháng 6 năm 1956, Phó thủ tướng Việt Nam, ông Ung Văn Khiêm, thay mặt Bắc Việt Nam xác nhận với phiá Trung Quốc như sau “Theo các tài liệu lịch sử từ phía chúng tôi (Việt Nam), đảo Xisha (Hoàng Sa) và Nansha (Trường Sa) thuộc về vùng đất lịch sử của quý quốc (Trung Quốc)”.

Sự kiện thứ hai là ngày 14 tháng 9 năm 1958, tức 2 năm sau đó, Thủ tướng Bắc Việt Nam đã gửi công hàm đến Thủ tướng Chu Ân Lai xác nhận chủ quyền Trung quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau khi Trung Quốc chính thức công bố chủ quyền lãnh hải của họ là 12 hải lý, bao gồm luôn các quần đảo Hoàng Sa (Xisha) và Trường Sa (Nansha) của Việt Nam. (1)

JPEG - 64.6 kb

Nội dung bức công hàm Thủ tướng Bắc Việt Nam Phạm Văn Đồng viết như sau “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958”.

JPEG - 207.9 kb

Năm 1979, 21 năm sau, khi chiến tranh biên giới Việt-Trung bùng nổ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tìm cách phủ nhận công hàm trên khi trả lời cuộc phỏng vấn của tờ báo Viễn Đông Kinh Tế. Ông Đồng cho rằng vì lúc đó đất nước có chiến tranh nên Đảng và Nhà nước đã phải ứng xử như vậy. Nói cách khác, vì quyền lợi của đảng CSVN và vì những mưu cầu chính trị, đảng CSVN sẳn sàng nhượng bộ về nhiều mặt, kể cả việc bán đứng chủ quyền của đất nước.

Hiện nay vấn đề tranh dành chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa đã càng lúc càng trở nên gay gắt, có nguy cơ đối đầu bằng chiến tranh để giải quyết những mâu thuẩn. Sự kiện Thủ tướng Phạm Văn Đồng thay mặt đảng CSVN xác nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này đặt cho Hà Nội ở vị thế khó xử, cho dù chủ quyền của Việt Nam đã có những chứng liệu lịch sử xác nhận. Việt Nam hiện ra sức giải thích với dư luận trong và ngoài nước về lỗi lầm họ đã mắc phải, biện minh rằng “Trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ nên Việt Nam phải nhượng bộ trước áp lực của Trung Quốc, mặc dù công hàm viết như vậy nhưng không ảnh hưởng đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Điều nghịch lý là trong bối cảnh lịch sử lúc đó, năm 1958, chủ quyền của Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về phiá Chính phủ Miền Nam Việt Nam. Trong khi phiá Miền Nam đã tìm đủ mọi cách để khẳng định chủ quyền thì đảng CSVN lại trơ trẻn ra công hàm phủ nhận chủ quyền của họ, phản bội quyền lợi đất nước và dân tộc, cam tâm bán đứng hai quần đảo này cho phiá Trung Quốc.

Năm 1951 tại Hội nghị ở San Francisso, khi Nhật ký Hiệp định hoà bình, Hiệp định này đã không đề cập rỏ ràng chủ quyền của nước nào đối với Trường Sa và Hoàng Sa. Chính phủ Việt Nam, Thủ tuớng Trần Văn Hữu có mặt trong Hội nghị đã tuyên bố công khai Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thủ tướng Trần Văn Hữu, khẳng định tại Hội nghị trong ngày 7 tháng 7 năm 1951 như sau: “Trong khi chúng ta cùng khai dụng mọi cơ hội để làm giảm đi những căng thẳng, phiá Việt Nam chúng tôi xin khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa vì những quần đảo này luôn thuộc về Việt Nam”. (2, 3)

JPEG - 22.3 kb

Trong số 51 quốc gia tham dự, đại biểu phía Liên Bang Sô Viết sau đó đề nghị nên thêm một phần trong bản Hiệp định, đề cập rằng Nhật đặt hai quần đảo này dưới chủ quyền của Trung Quốc. Đề nghị đó đã bị Hội nghị biểu quyết không chấp thuận với tổng số 46 phiếu thuận. Nói cách khác, Hội nghị với đại biểu của 46 trong tổng số 51 quốc gia tham dự lúc đó đã công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa là không thể phủ nhận. Sự kiện Trung Quốc đã không phản bác tuyên bố của phiá Việt Nam trước công luận thế giới sau Hội nghị 1951 tại San Francisco đã xác nhận điều này. Tuy nhiên, đến khi Đảng CSVN, đại diện là Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vì quyền lợi của Đảng đã ký công hàm “bán nước” vào ngày 14 tháng 9 năm 1958 thì phiá Trung Quốc có cở sở để chính thức phản bác và ngang ngược đòi chủ quyền của họ trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Nước chảy đá mòn nhưng “Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Vết nhơ về lỗi lầm ngoại giao trước dư luận thế giới có thể che đậy, nhưng vết nhơ về tội lỗi mang tính lịch sử thì không thể xóa nhòa.

Trần Nam
Đảng Dân Chủ Nhân Dân

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Một trại tập trung được chính quyền Trung Quốc xây ở Tân Cương. Ảnh: Greg Baker/ AFP

Tân Cương có gì để Bộ Công an đến học hỏi?

Đầu tháng Chín mới đây, theo thông tin từ Bộ Công An, lãnh đạo của cơ quan này, Bộ trưởng Lương Tam Quang, đã có chuyến thăm đến Khu tự trị Tân Cương, thuộc Trung Quốc.

Tại cuộc gặp, ông Quang “mong muốn” cả hai bên “nghiên cứu,” “chia sẻ kinh nghiệm” vì “các địa phương của Việt Nam có điều kiện kinh tế, xã hội tương đồng với Tân Cương.”

Tài xế Grab tại TP.HCM. Ảnh: Bloomberg

Bloomberg: Tài xế xe công nghệ Grab tại Việt Nam lên kế hoạch ngừng chạy cuối tuần để phản đối mức chiết khấu

Các tài xế của Grab Holdings Ltd. tại Việt Nam đang kêu gọi đồng loạt ngừng bật app để phản đối mức chiết khấu trên doanh thu của công ty, mà họ cho là quá cao.

Theo các tài xế, Grab có thể giữ lại tới 50% giá cước, khiến thu nhập thực tế của họ giảm đáng kể trong bối cảnh giá nhiên liệu và chi phí bảo dưỡng, vận hành phương tiện ngày càng tăng.

Quang cảnh Lễ Tưởng Niệm Cố Đề Đốc Hoàng Cơ Minh và các Anh Hùng Đông Tiến lần thứ 39 tại thành phố Kazo, tỉnh Saitama, Nhật Bản ngày 13 tháng 9 năm 2026

Nhật Bản: Lễ Tưởng Niệm Kháng Chiến Quân Đông Tiến lần thứ 39 tại Saitama

Để tưởng nhớ và tri ân những vị Anh Hùng Đông Tiến đã hy sinh cho lý tưởng tự do, Lễ Tưởng Niệm Kháng Chiến Quân Đông Tiến lần thứ 39 đã được tổ chức trang nghiêm tại phòng hội cộng đồng thành phố Kazo, tỉnh Saitama, ngày 13 tháng 9 năm 2026. Buổi lễ có sự tham dự của đông đảo đồng hương Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nagano, Nara, Kanagawa, Tokyo, Kazo cùng các khu vực lân cận.

Một tài xế lái xe GrabBike chở khách trên đường phố Hà Nội hôm 29/12/2018. Ảnh: Reuters

Áp lực trăm bề, tài xế Grab kêu gọi đình công để đòi quyền lợi

“Một cổ hai tròng,” những tài xế chạy xe dịch vụ Grab vừa phải chịu giảm thu nhập, lại thêm gánh nặng chi tiêu cho cuộc sống thường nhật.

Từ đầu tháng Chín mới đây, trên các diễn đàn Grab, nhiều tài xế tại nhiều tỉnh thành đang lan truyền lời kêu gọi tắt ứng dụng chạy xe trong hai ngày tới đây, 12 – 13/9, nhằm phản đối, tạo áp lực lên Grab vì chính sách chiết khấu hiện tại.