Khi Cộng Sản Việt Nam Nói Về ’Quyền Con Người’

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Để chống đỡ những áp lực của Cộng đồng người Việt tại hải ngoại và của chính giới các quốc gia tự do về tình trạng đàn áp nhân quyền, kềm kẹp tự do tín ngưỡng ở trong nước, mới đây, Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam đã cho phổ biến một tập tài liệu cỡ 25 trang dưới tiêu đề ’Sách trắng về nhân quyền: Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam’. Tài liệu soạn khá công phu gồm tất cả 4 chương và lời mở đầu ngắn. Chương 1 đề cập về quan điểm, chính sách của CSVN về quyền con người; Chương 2 đề cập về những thành tựu của CSVN trong việc thực hiện và thúc đẩy quyền con người, Chương 3 đề cập về hợp tác quốc tế trong lãnh vực bảo đảm và phát triển quyền con người; Chương 4 đề cập về một số luận điệu vu cáo CSVN trong vấn đề quyền con người. Trong 4 chương nói trên, Cộng sản Việt Nam đã dành khá nhiều trang để khoe khoang về cái gọi là ’các thành tựu về việc thực hiện quyền con người tại Việt Nam’ trong chương 2.

Theo quan điểm của Mác, nhân quyền là loại xa xí phẩm của xã hội tư bản. Con người chỉ có ’quyền’ phục tùng và phục tùng theo những điều kiện xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo, để tiến lên xã hội không còn giai cấp, không còn bóc lột. Do đó mà trong sách vở của những người cộng sản không bao giờ có chữ nhân quyền. Vì thế mà khi phải nói về nhân quyền, họ định nghĩa vô cùng quanh co. Trong sách trắng về nhân quyền, Cộng sản Việt Nam đã định nghĩa về ’quyền con người’ là quyền được sống trong độc lập, tự do và quyền được tự quyết định vận mệnh của mình. Ngay trong định nghĩa này, Cộng sản Việt Nam đã phải dùng đến ba nhóm từ ’độc lập’, ’tự do’ và ’tự quyết’ để giải thích, cho thấy sự quanh co đầy nguy biện của họ. Khi nói đến ’quyền con người’, người ta không thể viện dẫn bất cứ lý do hay hoàn cảnh xã hội để ép buộc con người phải phục tùng theo những quy ước do chế độ chính trị đó đưa ra. Từ căn bản ’quyền của con người’ chính là sự tự do. Con người không có tự do tức là con người đã bị tước đoạt mọi quyền căn bản. Chính vì vậy mà khi nói đến quyền con người, người ta không cần thêm bất cứ những nhóm từ nào đi cùng mà chỉ cần hành xử đúng sự tôn trọng quyền tự do là đủ.

Quanh co về định nghĩa chưa đủ, Cộng sản Việt Nam còn khoe trong sách trắng rằng họ đã không ngừng thể chế hóa bằng các văn kiện luật pháp để bảo vệ quyền con người sống trên đất nước Việt Nam. Chỉ tính từ năm 1986 cho đến nay, Hà Nội khoe rằng họ đã ban hành 13 ngàn văn bản pháp luật các loại, trong đó có hơn 40 bộ luật và luật, trên 120 pháp lệnh và gần 750 văn bản của chính phủ và trên 3 ngàn văn bản của các bộ, ngành liên quan đến việc bảo vệ quyền con người. Nếu quả thực người Việt Nam được tôn trọng và bảo vệ thật sự như Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam viết ra như trên, Hà Nội đã không cần phải viết ra tập bạch thư này và đã không phải trốn tránh đi cửa hậu khi phải đưa những phái đoàn ra hải ngoại vận động viện trợ hay đầu tư. Chính sự kiện nói một đằng làm một nẻo của Cộng sản Việt Nam đã khiến cho những gì họ trình bày đều không có giá trị vì không ai tin.

Trong bạch thư về nhân quyền, Cộng sản Việt Nam đã dành 2/3 số trang đề cập về các thành tựu của họ liên quan đến việc thúc đẩy quyền con người. Trong phần này, họ đề cập trên ba lãnh vực: 1/ quyền con người Việt Nam về dân sự và chính trị; 2/ quyền con người về kinh tế, xã hội và văn hóa; 3/ quyền của phụ nữ, chăm sóc và bảo vệ trẻ em, gia đình, người già và tàn tật. Trong ba lãnh vực này, Cộng sản Việt Nam đặc biệt nói nhiều đến quyền con người VN về dân sự và chính trị, với những quyền như được ứng cử, bầu cử; tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin, tự do hội họp và lập hội, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bình đẳng các dân tộc, tự do đi lại và cư trú. Cái gian của Hà Nội trong việc liệt kê các quyền nói trên cùng với những con số chứng minh các thành tựu, dễ làm cho một số người không hiểu biết nhiều về tình hình Việt Nam, có thể lầm lẫn rằng Việt Nam hiện là quốc gia đứng hàng đầu thế giới về tôn trọng nhân quyền.

Ví dụ trong lãnh vực bầu cử và ứng cử họ nêu con số rằng trong các cuộc bầu cử đã có 99% cử tri đi bầu. Từ đó họ kết luận là do người dân’ càng ngày càng ý thức được quyền của mình’ nên tỷ lệ đi bầu cao. Trong khi thực tế thì người dân bị ’các tổ dân phố’ đến nhà lùa đi bầu trên những tấm giấy đã được hướng dẫn sẵn là bầu cho ai. Đề cập về tự do báo chí và ngôn luận, họ nêu lên rằng năm 1990, Việt Nam chỉ có 258 tờ báo và tạp chí, năm 2005 tăng lên tới 553 tờ báo in và 700 ấn phẩm, 200 báo điện tử. Tuy nhiên điều mà tài liệu này không nêu lên là chỉ có đảng và những cơ quan trực thuộc đảng Cộng sản Việt Nam mới có quyền ra báo hay in các ấn phẩm còn những cá nhân hay đoàn thể không nằm trong sự kiểm soát của đảng thì chỉ có thể làm báo chui. Với một đất nước có gần 83 triệu dân mà chỉ có 700 ấn phẩm và 553 tờ báo và tạp chí, cho thấy là Cộng sản Việt Nam chưa tôn trọng quyền con người về tự do báo chí và ngôn luận. Ngay trong quyền về tự do hội họp và lập hội, Cộng sản Việt Nam đã liệt kê 115 tổ chức quần chúng năm 1990 tăng lên 300 tổ chức vào năm 2005 như một thành tựu của họ về việc bảo vệ quyền lập hội của người dân. Nhưng đi sâu vào nội dung của các tổ chức quần chúng này, hoàn toàn là những vệ tinh quay chung quanh đảng Cộng sản và Mặt trận tổ quốc, với những ngân sách hoạt động và nhân sự lãnh đạo đều do đảng Cộng sản Việt Nam chi phối.

Tóm lại, Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam phát hành tập bạch thư chỉ một lý do duy nhất là để ’phân trần’ với thế giới là họ có quan tâm đến các quyền về con người tại Việt Nam, trong tiến trình vận động đầu tư và viện trợ từ các quốc gia phương Tây. Vì thế mà Hà Nội không chú ý đến nội dung, coi đó như một tài liệu chào hàng để trao cho những đối tác nào nêu vấn đề nhân quyền khi tiếp cận. Nếu Cộng sản Việt Nam thực sự coi vấn đề nhân quyền là chính yếu, họ đã phải thể hiện bằng hành động đối thoại với những người bị đàn áp, tôn trọng các quyền đối lập của người dân, không cần phải tốn thời giờ tiền bạc, soạn thảo tập bạch thư mà nội dung chỉ chứa đựng những điều không thật.

Lý Thái Hùng
31 tháng 8, 2005.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Binh lính Hải quân Philippines đụng độ Lực lượng Cảnh sát biển Trung Quốc (áo phao màu cam) hôm 20/7/2026 gần chiếc tàu chiến Philippines mắc cạn tại Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal) trên Biển Đông. Ảnh: Reuters

Biển Đông đang nổi sóng

Vụ va chạm giữa lực lượng Hải cảnh Trung Quốc và Hải quân Philippines tại khu vực Bãi Cỏ Mây ngay trước thềm chuỗi Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN và các đối tác ở Manila đã đẩy căng thẳng Biển Đông lên một nấc mới, đồng thời làm gia tăng đối đầu ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc.

Ông Tô Lâm tham dự và phát biểu tại phiên họp chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 hôm 4/7/2026. Ảnh: VGP

Cần bao nhiêu Chỉ thị 07 mới dẹp được “kiêu binh”?

Khi việc bảo vệ một biểu tượng được đồng nhất với việc triệt tiêu mọi cách diễn giải khác, khi phản biện dễ bị quy thành chống đối, còn lòng trung thành được đo bằng mức độ quyết liệt trong việc lên án người khác, thì “kiêu binh” sẽ còn tự tái sinh dưới những hình thức mới.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” từng được ra mắt tại trụ sở Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam. Ảnh: NXB Hội Nhà văn Việt Nam

Cần “lật sử” (!) và “xuyên tạc lịch sử,” “xúc phạm lãnh tụ” ư?

Hiểu quá khứ để rút ra những bài học cho hiện tại và tương lai là vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đất nước và của mỗi người chúng ta. Chính vì thế việc viết lại các chuyện kể lịch sử và việc đánh giá lại các nhân vật lịch sử là chuyện thường xuyên phải làm của các nhà sử học, cũng như là quyền của mỗi người quan tâm đến lịch sử, và không thể vin vào “sự xuyên tạc lịch sử,” hay “sự xúc phạm lãnh tụ” để “đấu tố” hay  “lên án” họ nhất là để truy tố họ.

Khi “bốn bước chuyển chiến lược” gặp cơn sóng thần đấu tố trên toàn quốc

Điều đang diễn ra tại Việt Nam là một dạng “Cách mạng Văn hóa kỹ thuật số,” Hồng vệ binh không còn đeo băng đỏ mà ẩn sau tài khoản mạng; loa phường không chỉ treo trên cột điện mà nằm trong điện thoại của mỗi người; bản án dư luận được ban hành trước khi tranh luận học thuật kịp bắt đầu. Khi cả xã hội được huy động để săn lùng một câu chữ, một cuốn sách hoặc một cách gọi nhân vật lịch sử, mục tiêu thực sự không còn là bảo vệ sự thật. Đó là việc buộc mọi người phải nhìn quá khứ bằng một đôi mắt duy nhất.