Thành phố Hà Nội muốn biến thành viện nghiên cứu

Ông Đinh Tiến Dũng, Bí Thư Hà Nội. Ảnh: Báo Thanh Tra
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nhằm mục tiêu “xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp,” Thành ủy Hà Nội vừa ban hành Nghị Quyết 4, “phấn đấu” đến năm 2025 có được 40% cán bộ thuộc thành ủy quản lý có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Đây có thể là một sự phấn đấu rất tốt đẹp với hy vọng qua đó, người dân đánh giá chính quyền cộng sản ngày nay là nơi tập trung nhiều thành phần danh giá, không phải là những nhà cai trị không có bằng cấp!

Tuy nhiên sự danh giá của các cán bộ cộng sản trình độ thạc sĩ, tiến sĩ nếu có, cũng cần có nhiều điều phải bàn.

Thông thường, nền giáo dục của một quốc gia trong thời đại công nghiệp hóa và tiến đến kỹ thuật số như hiện nay, có hai giai đoạn học vấn căn bản phải đạt được trong việc đào tạo công dân. Đó là trình độ trung học phổ thông 12 năm và đại học 4 năm sau trung học. Đây là 2 nấc thang cần thiết để xây dựng một nền tảng nhân sự ở mọi cấp, có kiến thức tổng quát để có thể đảm trách những công việc mà công ty, trường học hay các cơ quan chính quyền cần đến.

Nói cách khác, tùy theo tình trạng nhân dụng chung, các cơ quan nhà nước, công ty, xí nghiệp hay cơ sở giáo dục sẽ đưa ra nhu cầu tuyển dụng. Và căn cứ trên từng công việc cao thấp mà những nơi đó ấn định điều kiện phải có văn bằng trung học hay đại học để thu hút người nộp đơn xin việc.

Mặt khác khi đề cập đến nhu cầu trình độ thạc sĩ hay tiến sĩ, là đã bước vào lãnh vực chuyên môn hóa mang tính chất nghiên cứu để đào sâu một đề tài trong khoa học, kỹ thuật hay khoa học xã hội. Do đó, những người có trình độ này thường sẽ làm việc trong các viện nghiên cứu hay trong các đại học danh tiếng. Không có nơi nào trên thế giới sử dụng trình độ thạc sĩ hay tiến sĩ trong những công việc bàn giấy hành chánh từ ngày này qua ngày nọ trong một khung cảnh không thay đổi. Điều đó không những uổng phí công lao đào tạo sau đại học mà còn cho thấy sự vô lý trong sự sử dụng nhân tài. Cho dù bào chữa cách nào đi nữa, đó cũng là cách chôn vùi trí thức một cách ngu muội.

Thật hoang phí tiền của và thời gian khi phải mất thêm 2 năm hay từ 4 đến 6 năm để có thêm văn bằng thạc sĩ, tiến sĩ rồi sau đó không sử dụng đến khi đặt họ ngồi trong văn phòng cạo giấy lãnh lương. Thay vào đó, chỉ cần chú tâm đào tạo những người có trình độ trung học hay đại học để làm đúng nhiệm vụ của người công chức hay công nhân với đầy đủ năng lực. Chính trong quá trình làm việc này, họ mới được vun bồi kinh nghiệm bản thân để trở thành cán bộ giỏi, đa năng biết cách ứng phó với những tình huống phức tạp của công việc. Thực tế trong một cơ quan hành chánh hay công ty, người ta không chỉ dựa trên trình độ hay văn bằng mà chính là qua quá trình kinh nghiệm tích lũy  khi làm việc.

Việt Nam muốn phát triển thật sự, trước khi hóa rồng, hóa hổ cần làm điều bình thường nhất là phải dựa trên vốn kinh nghiệm của công chức cán bộ. Đừng phí tiền bạc đào tạo cán bộ trình độ thạc sĩ, tiến sĩ vì mục tiêu không phải để họ vào làm công việc nghiên cứu trong các cơ quan nhà nước, các công ty.

Thước đo của một cán bộ trong bộ máy hành chánh chính là sự tận tâm phục vụ người dân trong phạm vi trách nhiệm của mình, kèm theo tính minh bạch, trong sáng và hiệu quả mỗi khi người dân cần đến. Chứ không phải trong cơ quan nhà nước chứa nhiều cán bộ có bằng cấp thật cao mà thái độ phục vụ thì hống hách, ngạo mạn. Cái đó không khác sự lòe bịp của chế độ để che giấu sự bất lực của chính mình.

Trong một khía cạnh khác, điều lợi chưa thấy mà nghị quyết của Thành ủy Hà Nội chắc chắn sẽ đẩy mạnh sự gian dối lan tràn trong thành phần công chức, cán bộ. Những người này muốn sớm có đủ điều kiện văn bằng để đáp ứng điều kiện của Thành ủy Hà Nội hầu tiếp tục ngồi lại, không gì bằng bỏ tiền mua ngay một tấm bằng giả được sản xuất từ các lò ấp tiến sĩ.

Thành phố Hà Nội nên bỏ Nghị Quyết 04 và quay về với thực tế, rà soát lại những cán bộ hiện nay có thật là những người “học thật, thi thật, nhân tài thật” không. Hay chỉ là những người được cất nhắc vào chức vụ béo bở nhờ vào những liên hệ mờ ám của những nhóm lợi ích chằng chịt trong đảng.

Phạm Nhật Bình

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cơ quan quản lý cước phát thanh truyền hình GEZ, Đức. Ảnh: FB Tho Nguyen

Truyền thông độc lập (bài 2)

Sau 1945 người Đức coi truyền thông nhà nước là cái ổ tiềm ẩn cho chế độ độc tài. Khi xây dựng hiến pháp, bên cạnh việc phân chia đất nước theo thể chế liên bang, kiểm soát quyền lực bằng tam quyền phân lập người ta cũng xóa bỏ các đài phát thanh và truyền hình nhà nước, lập ra hệ thống phát thanh và truyền hình công cộng. Chính quyền từ địa phương đến liên bang bị cấm không được lập cơ quan truyền thông để tự tuyên truyền cho mình… Tư nhân vẫn có quyền làm báo, in ấn, lên sóng phát thanh, truyền hình, điện ảnh, sân khấu.

Ảnh minh họa: VNTB

Từ luật sư đến bác sĩ: Cải cách thủ tục hay gia tăng kiểm soát?

Nếu mục tiêu chỉ là cải cách thủ tục, tại sao phải trao thêm cho chủ tịch xã, trưởng Công an xã quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư – một thứ vốn do Bộ Tư pháp và các thiết chế chuyên môn giám sát?

Nếu mục tiêu chỉ là giảm tải cho Bộ Y tế, tại sao không củng cố các hội đồng y khoa độc lập, mà lại giao trọn quyền cấp, thu hồi giấy phép bác sĩ cho chủ tịch tỉnh?

Đó không còn là chuyện “rút ngắn quy trình,” mà là chuyện ai được cầm chìa khóa nơi vận hành cả hệ thống.

Nhân viên đài phát thanh Tiệp biểu tình phản đối việc nhà nước hóa truyền thông công cộng

Truyền thông độc lập (bài 1)

Trong tháng Hai 2026, chính phủ cánh hữu (Tiệp – nước Cộng hòa Séc) của Thủ tướng Babis đã quyết định: Từ 2027 các đài phát thanh truyền hình công cộng sẽ không sống vào tiền cước phí truyền hình do dân đóng, mà sẽ được cấp bởi ngân sách nhà nước, lấy từ tiền thuế.

Người Việt sẽ bảo: Thế thì sao lại phản đối? Dân sẽ đỡ phải đóng cước phí truyền thông, trong khi nhà đài vẫn được nhà nước chu cấp cơ mà?

Ngày càng nhiều người Việt Nam, Trung Quốc thuộc tầng lớp trung lưu hoặc giàu có tìm cách rời nước ra đi định cư ở các nước khác, mang theo hàng triệu đô la. Ảnh: AI

Tầng lớp trung lưu Việt Nam và Trung Quốc trước làn sóng tập quyền

Trong các hệ thống chính trị tập quyền, nỗi lo lắng không phân bổ đều cho tất cả mọi người. Người nghèo thường đã quen với sự bất định; giới tinh hoa chính trị thì có đủ quan hệ để tự bảo vệ. Nhưng tầng lớp ở giữa – những người đã tích lũy được tài sản, học vấn và vị thế xã hội nhờ vào một thời kỳ tăng trưởng kinh tế chưa từng có – lại đứng trước một nghịch lý đau đớn: Họ có đủ để mất, nhưng không đủ quyền để được bảo vệ.

Đây chính là tình trạng của tầng lớp trung lưu ở Việt Nam và Trung Quốc ngày nay…