Hôm nay, được mấy anh chị bạn cơ sở Việt Tân Toronto mời tham dự lễ tưởng niệm Anh hùng Đông Tiến. Thật sự, thì lúc này tôi rất hạn chế ra ngoài cộng đồng vì một vài lý do riêng, nhưng với buổi lễ hôm nay tôi phải tham dự vì rất nhiều lý do, mà lý do chính là tôi rất ngưỡng mộ những người đã dám từ bỏ đời sống an lành với gia đình, vợ đẹp con ngoan ở Mỹ để quay trở về với biết bao hiểm nguy, để rồi chết ở biên giới Đông Dương không một nắm mồ. Thử hỏi mấy ai đã làm được?
Như các bác, các bạn biết, những năm cuối thập niên 70 – 80, chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới rất mạnh, gần như họ đã thống trị gần nửa dân số thế giới. Họ bành trướng từ Á sang Âu, nhất là sau năm 1975 khi cộng sản chiếm trọn Việt Nam và đưa quân chiếm Campuchia, uy hiếp vùng biên giới Thái Lan. Người dân Miền Nam nói riêng và cả Việt Nam phải sống trong sự đói khổ, với tương lai vô định, ai cũng muốn tìm đường trốn khỏi Việt Nam để đến một quốc gia tự do nào đó định cư tị nạn, lo gây dựng lại cuộc đời cho bản thân và gia đình.
Trong khi đó tại Mỹ và mấy nước tự do khác, có những con người, họ cũng đã trốn chạy cộng sản thành công trước đó, vậy mà đã dám rời bỏ gia đình cùng một số chiến hữu về biên giới Đông Dương lập chiến khu mưu cầu việc lớn.
Có nhiều lắm như Trần Văn Bá, Mai Văn Hạnh, Võ Đại Tôn và nhiều, nhiều người nữa mà tôi không biết hết. Nhưng có lẽ ấn tượng với tôi nhất là ông Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, người thủ lĩnh của Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam, đã rời nước Mỹ bỏ lại vợ và 3 con nhỏ, người con đầu chỉ mới 14 tuổi, đứa bé mới 9 tuổi. Có lúc tôi tự hỏi mình: Nếu là tôi, tôi có làm được như vậy không? Tôi thành thật trả lời là tôi không thể làm được. Anh hùng và anh hèn khác nhau như vậy đó các bạn. Vậy mà ông cũng bị bao tiếng dèm pha, nghĩ đời mà phát chán thật.

Sau này, khi định cư ở Canada, tìm hiểu tôi mới biết lúc các vị này hy sinh là những năm tôi đang ở trại tị nạn Phanat Nikhom, Thái Lan. Rồi sau đó tôi được Canada nhận cho định cư, rồi mãi lo cho cơm áo gạo tiền, đến gần 10 năm sau, khi đời sống của người tị nạn “bốn không” (không tiếng Anh, không tiền, không nghề nghiệp, không gia đình) đã tạm ổn định, tôi có tham dự buổi tưởng niệm các kháng chiến quân lần đầu tiên. Tôi đã ngồi khóc ở góc hội trường vì biết được có những con người đã dám bỏ gia đình, vợ con – nhất là ngày hôm đó có người cháu của Trung tá Lê Hồng, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 1 Nhảy dù đến dự, và được biết ông cũng đã rời đất Mỹ bỏ lại vợ và 6 người con để về chiến khu và chết vì bệnh sốt rét.
Dù các vị chưa thành công trong việc mang lại tự do dân chủ cho đồng bào mình, nhưng sự hy sinh của các vị là tấm gương sáng cho thế hệ mai sau tiếp nối, như Anh hùng Nguyễn Thái Học đã nói: “Không thành công, cũng thành nhân.”
Thôi, các vị hãy yên nghỉ, Tổ quốc Việt Nam sẽ ghi ơn các vị, cũng như bao nhiêu vị anh hùng vô danh khác đã hy sinh sau năm 1975 để mưu cầu cho công cuộc dân chủ hóa đất nước. Tôi mượn mấy câu thơ của thi sĩ Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy trong bài Anh Hùng Vô Danh để kết thúc bài viết này:
“Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách,
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên,
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật,
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất,
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông.
Và anh hồn chung với tấm tinh trung
Đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt.”
Xin nguyện cầu vong linh của các vị thoát chốn mê đồ, vãng sinh về cõi an lành.
Nguồn: FB Chinh Le



