Cái chết của một hồng vệ binh

Người dân Huế trở về sau khi Việt Cộng bị đẩy lùi khỏi thành phố sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968. Ảnh minh họa: Terry Fincher/ Express/ Getty Images
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, một nhà văn, một cán bộ Cộng Sản có tiếng tăm ở Việt Nam, vừa qua đời hôm 24 Tháng Bảy tại Sài Gòn, chỉ 18 ngày sau cái chết của vợ là nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ. Lẽ ra chúng tôi không cần quan tâm, nhưng suốt mấy ngày qua người Việt ở cả trong nước và ngoài nước cãi nhau ầm ĩ về vai trò của ông này trong vụ thảm sát hàng ngàn dân Huế hồi Tết Mậu Thân 1968, khơi lại những ký ức tưởng chừng đã xa xăm, mở lại những tài liệu tưởng chừng đã quên lãng nên bứt rứt và có đôi dòng hầu bạn đọc.

Tranh cãi xoay quanh chuyện ông Tường có mặt ở Huế trong Tết Mậu Thân hay không, có chủ tọa những “tòa án nhân dân” và giết chết hàng trăm người như dư luận cáo buộc hay không. Cuộc tranh cãi một phần vì những phát ngôn bất nhất của chính ông Tường, lúc nói có lúc nói không, khó mà khẳng định được lúc nào ông nói thật, lúc nào ông giả trá.

Những tài liệu ghi nhận ông Tường có vai trò quan trọng trong các vụ thảm sát dân Huế được các nhân chứng công bố khá sớm và chi tiết. Chẳng hạn, “Dải khăn sô cho Huế” của nữ văn sĩ Nhã Ca, “The Viet Cong Massacre At Hue” của Bác Sĩ Alje Vennema người Hòa Lan, “Huế Thảm sát Mậu Thân 1968” của Thiếu Tá Liên Thành, phó trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên tại thời điểm xảy ra biến cố… Những tài liệu này hiện có khá đầy đủ trên Internet, bạn đọc có thể tìm thấy dễ dàng.

Đặc biệt, đích thân ông Hoàng Phủ Ngọc Tường đã không giấu giếm mà có phần huênh hoang khi kể về thành tích của ông trong việc lãnh đạo “cuộc nổi dậy” của người dân Huế. Tháng Ba, 1981, trả lời đạo diễn bộ phim “Việt Nam Thiên Sử Truyền Hình” – gồm 13 tập do đài WGBH-TV ở Boston hợp tác sản xuất với truyền hình trung ương độc lập Anh và đài Antenne-2 của Pháp, được chiếu trên đài PBS từ Tháng Mười đến Tháng Mười Hai, 1983 – ông Tường tươi cười gọi những người Huế bị giết trong vụ thảm sát là “những con rắn độc.” “Chính nhân dân đã căm thù quá lâu… Và đến khi mà cách mạng bùng lên, họ được như là lấy lại cái thế của người mạnh thì họ đi tìm những kẻ đó để trừ, như là trừ những cái con rắn độc mà từ lâu nay, nếu còn sống, thì nó sẽ tiếp tục nó gây tội ác trong chiến tranh… Như vậy là cái giá đó, tôi nghĩ là, nó nhẹ. Nếu ai đã từng theo dõi cuộc chiến tranh thì sẽ thấy từng cái món nợ đó là rất nhẹ. Nó rất gọi là công bằng,” ông Tường nói trong phim ở tập số 7.

Từ những ghi chép của nhân chứng và lời ông Tường, dư luận từ lâu đã tin chắc như đinh đóng cột rằng ông Tường – và đồng đội của ông như ông Hoàng Phủ Ngọc Phan, em ruột ông, và ông Nguyễn Đắc Xuân, đồng chí của ông hiện còn sống ở Huế – là những tên “đao phủ,” tên “đồ tể” trong vụ thảm sát ghê rợn ở Huế, Tết Mậu Thân 1968.

Thế nhưng đến năm 2018, ông Tường bất ngờ đưa ra một lá thư mà ông đọc cho con gái viết (ông Tường bị liệt nửa người, phải ngồi xe lăn từ năm 1989), cậy đăng trên trang của ông Nguyễn Quang Lập, như muốn xin lỗi và tỏ bày. Trong thư, ông nói vì sự kiêu ngạo của tinh thần cộng sản mà ông đã đứng ra nói như một nhân chứng về thảm sát Mậu Thân. Thư viết: “Mậu Thân 1968 tôi không về Huế… Tôi xin thành thật nhìn nhận về hai sai lầm, xin ngàn lần xin lỗi. Tôi đã tự rước họa cho mình, tự tôi đã đánh mất niềm tin yêu của nhiều người dân Huế đối với tôi, tạo điều kiện cho nhiều kẻ chống Cộng cực đoan vu khống và quy kết tôi như một tội phạm chiến tranh.” Ông cũng thú nhận: “Sai lầm của tôi là nhận lời ông Burchett và đoàn làm phim ‘Việt Nam Thiên Sử Truyền Hình’ để trả lời phỏng vấn với tư cách một nhân chứng Mậu Thân Huế 1968, trong khi tôi là kẻ ngoài cuộc.” Ông nhiều lần nhấn mạnh trong thời gian tổng tấn công Mậu Thân, ông không có mặt ở Huế mà ở trên rừng, trong chiến khu nên không có chuyện ông nhúng tay vào cuộc thảm sát.

Một số người tin vào lời biện bạch của ông. Nhưng phần lớn, đặc biệt là người Huế và người có thân nhân bị tàn sát cách đây đúng 55 năm, chẳng những không tin mà ngược lại càng ghê tởm ông. Họ coi ông là một tên tội phạm, lá thư xin lỗi của ông ta không thể chấp nhận được, chưa phải là “lời cuối cho câu chuyện quá buồn” như nhan đề lá thư tỏ bày của ông trên trang Nguyễn Quang Lập.

***

Bây giờ thì ông Tường sắp được vùi dưới ba tấc đất nhưng câu chuyện ông và Mậu Thân vẫn chưa ngã ngũ. Một số người viện truyền thống văn hóa dân tộc, “nghĩa tử là nghĩa tận,” để phản bác những ai nhắc lại quá khứ tội lỗi của người mới chết. Có người dẫn ngôn ngữ nhà Phật để bảo, ông Tường bị liệt nửa người đã hơn phần tư thế kỷ, sống không bằng chết, thì coi như ông ta đã trả cái “ác nghiệp” nặng nề gây ra thời trai trẻ!

Chúng tôi nghĩ, không ai muốn đay nghiến hay luận tội người đã chết, nhưng lịch sử và những con người liên quan cần luôn được xem xét, tìm hiểu, không có gì bị lãng quên, để định hướng tương lai. “Cái quan luận định,” lúc đóng nắp quan tài cũng là lúc một người phải chịu sự bình phẩm của thế nhân, người càng nổi tiếng càng bị phán xét, không trách được.

Chúng tôi nghĩ, chuyện ông Tường có mặt ở Huế những ngày Mậu Thân hay không thì không có nhiều ý nghĩa, không cần phải bàn cãi nhiều. Dù có mặt hay vắng mặt, với tư cách người lãnh đạo cuộc “nổi dậy,” ông không thể tránh né trách nhiệm vụ thảm sát hàng ngàn quân cán chính và dân lành vô tội ở Huế. Dù biện bạch, dù “ngàn lần xin lỗi” ông vẫn không thể rửa sạch bàn tay nhuốm máu đồng bào vào cái thời ông “mang đầy máu hồng vệ binh từ trong rừng ra,” là “cái thằng Tường tín đồ mù quáng của giáo hội” như chính ông thú nhận với nhà thơ Ý Nhi trong một lá thư viết tay ngày 30 Tháng Mười 1991 mà bà Ý Nhi mới công bố trên trang Văn Việt.

Có điều, thiển nghĩ, những trí thức-đao phủ như ông Tường bất quá cũng chỉ là tay sai mù quáng của một thế lực hắc ám hơn. Cuộc tấn công Mậu Thân được Cộng Sản Hà Nội chuẩn bị nhiều tháng nhằm cướp chính quyền miền Nam bằng bạo lực và khủng bố. Ở Huế, trước cuộc tấn công Mậu Thân, Cộng Sản soạn ra hai danh sách những mục tiêu cần diệt, bao gồm tất cả các viên chức dân sự, sĩ quan quân đội và gần như tất cả mọi người có liên quan tới chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũng như những thương nhân bất hợp tác, trí thức và tăng lữ. Họ cũng lập ra cái gọi là Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình để thực hiện chiến dịch khủng bố dân lành thay cho quân đội chính quy của họ và sau đó họ trắng trợn vu khống cho người Mỹ và quân đội Cộng Hòa.

Với hơn 5.000 người bị giết, nhiều người bị trói cánh khuỷu, bị đập đầu, bị chôn sống và phần lớn là thường dân vô tội, đây là tội ác có quy mô khủng khiếp nhất của cuộc chiến. Đến bây giờ, 55 năm sau, nhà văn Phan Nhật Nam, một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa từng chiến đấu để giành lại thành Huế trong trận Mậu Thân năm 1968, vẫn chưa hết bàng hoàng: “Tôi vẫn canh cánh trong lòng tất cả những bi thảm đó với câu hỏi tại sao con người ta có thể ác với nhau như vậy? Tại sao người Cộng Sản có thể tàn nhẫn với chính đồng bào của mình như vậy, những đồng bào vô tội,” ông Nam giãi bày với đài VOA.

Được Việt Cộng đặt vô cái ghế tổng thư ký hữu danh vô thực của Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình, ông Tường hí hửng viết lời hiệu triệu dân Huế “nổi dậy,” hí hửng lên truyền hình khoe khoang thành tích giết người theo danh sách cấp trên ban xuống. Đến khi nhận ra những “hồng vệ binh từ trong rừng ra” như ông chỉ là những con tốt đen, những công cụ vô minh thực thi cái công việc khủng bố tàn ác và bẩn thỉu thay cho đảng thì đã quá muộn, bàn tay đã nhuốm máu đồng bào. Hạng tép riu, “17 năm cảm tình đảng” mà vẫn chưa được đảng Cộng Sản thu nhận như ông không đủ thẩm quyền, không đủ tư cách để tổ chức và chỉ huy một cuộc tắm máu kinh thiên động địa như vậy nếu không có đèn xanh từ cấp cao hơn. Nếu không trực tiếp tàn sát đồng bào thì ông Tường đã mua dây buộc cổ mình, và ông không thể trốn tránh trách nhiệm bằng lời tuyên bố “tôi vắng mặt.”

Sau này, có lúc dường như tên hồng vệ binh vỡ mộng, nhưng thay vì lên tiếng tố cáo những kẻ chủ mưu để gỡ tội cho mình, ông Tường lại chỉ quẩn quanh trong việc tự thanh minh với những phát ngôn bất nhất và thù hận. Rốt cuộc, ông mong ước “Vẽ tôi một nửa mặt người/Nửa kia mê muội của thời hoang sơ” (Người Hái Phù Dung – thơ HPNT). Nhưng xem ra cái “nửa mặt người” phù du kia ông cũng không có nốt, chỉ có một kẻ mê muội hoang sơ đến hơi thở cuối cùng.

Hiếu Chân

Nguồn: Người Việt

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”