Canh Tân Giáo Dục

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Người Việt Nam vẫn nổi tiếng là thông minh, hiếu học, cần cù. Với những đặc tính như thế, sao dân ta trên đất nước của mình vần nghèo mạt, chậm lụt theo sau thế giới? Một trong nhiều lý do quan trọng đang kềm hãm dân tộc ta trong vũng lầy lạc hậu là nền giáo dục của ta. Trong bài bình luận ngắn ngủi này, chúng tôi chỉ xin giới hạn vào một khía cạnh cơ bản của giáo dục, đó là tinh thần học.

Văn hóa nước ta đề cao việc học hành. Văn chương truyền đời thi vị hóa hình ảnh của những anh học trò dùi mài kinh sử, vác lều chõng lên kinh đô dự thi. Kết quả và biểu hiệu của sự thành đạt là đậu bằng Trạng Nguyên, để được làm quan to hay Phò Mã, rồi Vinh Quy Bái Tổ cho bản thân và gia đình nở mày nở mặt với xóm làng. Trong kho tàng văn hoá của dân tộc ta ít thấy nói đến những người đỗ đạt sẽ làm gì sau đó bằng những kiến thức học được, để làm sao cho đất nước và xã hội khá hơn. Cho nên tuy văn hóa nước ta đề cao việc học hành, nhưng do ảnh hưởng của lối học từ chương đề cao việc học với mục đích đỗ đạt để làm quan, hưởng bổng lộc, cho bõ thuở hàn vi dùi mài kinh sử. Sự đỗ đạt cũng là cách đền đáp công ơn dưỡng dục của cha mẹ. Ấn tượng văn hóa này vừa thể hiện, vừa duy trì nuôi dưỡng một tinh thần học với mục đích chính, và gần như tối hậu, là tốt nghiệp với một mảnh bằng như ý. Cho nên các bậc sĩ phu trí thức của ta sau khi đỗ đạt tốt nghiệp thường coi như mình đã xong, có quyền hưởng nhàn, không cần tiếp tục học để trau dồi thêm kiến thức tiên tiến nữa. Ở Việt Nam ngày nay bằng cấp còn trở thành lá bùa cho nhiều cán bộ nhà nước có đủ tiêu chuẩn để ngồi tại chức vụ thủ trưởng cơ quan, hay các chức vụ béo bở khác.

JPEG - 46.3 kb

Trong khi đó ở các xứ tiến bộ như Hoa Kỳ, việc tốt nghiệp với mảnh bằng không được coi là Điểm Đến sau cùng, mà chỉ mới là Điểm khởi đầu của giai đoạn mới làm việc thực sự. Các lễ ra trường tốt nghiệp được gọi là Commencement Exercise có nghĩa là buổi thao dợt mở đầu. Mảnh bằng chỉ có giá trị chứng minh rằng, người cầm nó đã thu thập được một kiến thức và khả năng tối thiểu nào đó để có thể hành nghề với trách nhiệm chuyên môn tương xứng. Áp dụng kiến thức và khả năng vào thực tế làm việc ra sao mới là yếu tố quyết định chính trong việc ấn định bổng lộc, thăng tiến và ổn định nghề nghiệp cá nhân. Trong nhiều ngành học, các văn bằng hành nghề chỉ có giá trị trong một thời kỳ nhất định mấy năm, và được tái cấp sau khi người cầm nó phải chứng minh mình luôn cập nhật kiến thức và tay nghề qua một số giờ tối thiểu học thêm hoặc qua một kỳ thi khảo sát lại.

Chính vì tinh thần học để biết cách làm việc sao cho chính mình và công việc được thăng tiến, mà các chuyên gia trí thức ở các nước tiến bộ đại đa số rất nghiêm túc trong vấn đề thi cử. Vì họ ý thức rõ rằng thi cử là để đo lường thử thách khả năng thật của chính mình, chuẩn bị cho tương lai thực tế. Trong khi đó, tinh thần học của dân ta, như đã trình bày ở trên, dễ đưa đến cái nhìn rằng thi cử là hàng rào trước giải thưởng cuối cùng là mảnh bằng tốt nghiệp. Và khi đã xem mảnh bằng là cứu cánh, thi cử là rào cản, thì người ta sẵn sàng tìm mọi cách để vượt qua rào cản, tìm mọi ngã tắt để đạt mục đích. Môi trường xã hội càng sa đọa đầy dẫy tham nhũng, thì càng có cơ hội để đi ngã tắt để lấy mảnh bằng. Do đó, chẳng có gì là ngạc nhiên khi ngày nay ở Việt Nam, gian lận thi cử, dùng phao, thuê người thi giùm, mua bằng v.v… đang trở thành phong trào gần tới mức độ nạn dịch từ cấp lớn tới cấp bé… Việc này đưa đến sự nghịch lý mỉa mai: người ta càng coi trọng mảnh bằng để đạt được nó bằng mọi cách, thì mảnh bằng càng trở nên vô giá trị không chứng minh được thực học.

Cho nên, một thách đố lớn cho những nhà giáo dục và người cầm quyền hiện nay là làm sao cải tạo tư duy và quan niệm học hành thi cử của dân ta, để canh tân nền giáo dục nhằm đào tạo những trí tuệ Việt Nam có khả năng đưa nước ta hội nhập vào văn minh tiến bộ không ngừng của thế giới.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”