,

Cuộc chiến cáp ngầm với Trung Quốc

saigon15

Tuyến cáp quang ngầm dưới đáy biển. Ảnh minh họa: DSA (Defence and Security Alert)

Nguyễn Công Bằng

Lịch sử hình thành cáp ngầm

Sau gần hai thế kỷ âm thầm góp phần kết nối thế giới và thúc đẩy toàn cầu hóa, các tuyến cáp ngầm dưới biển đang trở thành hạ tầng chiến lược trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Đây không chỉ là những tuyến đường truyền dữ liệu thiết yếu đối với nền kinh tế số, mà còn liên quan trực tiếp đến chủ quyền, hoạt động tình báo và an ninh quốc gia.

Lịch sử cáp ngầm bắt đầu từ sự phát triển của điện báo trong nửa đầu thế kỷ XIX. Công nghệ này lần đầu tiên cho phép thông tin được truyền đi nhanh hơn tốc độ di chuyển của con người. Điện báo nhanh chóng phát triển tại châu Âu và Mỹ, nhưng để nối các châu lục, người ta phải tìm cách đưa những tuyến cáp dài hàng trăm, thậm chí hàng nghìn km xuống biển.

Một trong những bước tiến quan trọng là việc Anh sử dụng gutta-percha, loại nhựa tự nhiên lấy từ một loài cây ở bán đảo Malacca, làm vật liệu cách điện cho cáp. Bên cạnh đó là hàng loạt trở ngại khác, từ việc đóng những con tàu đủ lớn để chở hàng trăm km cáp đến kỹ thuật thả cáp xuống đáy đại dương. Trong những năm 1850, không ít tuyến cáp đã bị đứt hoặc mất giữa biển trước khi kỹ thuật dần được hoàn thiện.

Đến năm 1877, gần như toàn bộ các tuyến cáp ngầm trên thế giới đều thuộc Anh, phản ánh vị thế áp đảo của nước này trong thương mại và tài chính quốc tế thời bấy giờ. Nhờ cáp ngầm, thông tin về lượng hàng hóa tại phương Đông hay Nam Mỹ cũng như giá cả trên các thị trường này có thể được truyền đi gần như tức thời, thay vì phải mất nhiều tuần hoặc nhiều tháng theo những chuyến tàu biển. Đây là một trong những hạ tầng quan trọng thúc đẩy thương mại quốc tế và quá trình toàn cầu hóa.

Giai đoạn hiện nay

Tuy nhiên, mạng lưới được hình thành trong thời kỳ giao thương quốc tế ngày càng mở rộng hiện phải hoạt động trong một thế giới ngày càng phân mảnh về địa chính trị. Cáp ngầm vì thế không còn đơn thuần là phương tiện truyền dữ liệu mà đã trở thành một công cụ quyền lực. Các quốc gia có thể tìm cách khai thác những điểm yếu của mạng lưới để gây sức ép với đối thủ, trong khi các tập đoàn công nghệ lớn sử dụng việc kiểm soát đường truyền để củng cố vị thế trên thị trường số.

Sự thay đổi về quyền sở hữu cáp ngầm cho thấy khá rõ xu hướng này. Trước đây, các tuyến cáp quốc tế thường do những liên danh gồm nhiều nhà khai thác viễn thông của các nước cùng đầu tư và vận hành. Tuy nhiên, với những dự án quốc tế lớn, mô hình này ngày càng nhường chỗ cho các tập đoàn công nghệ Mỹ như Meta (công ty mẹ của Facebook) và Alphabet (công ty mẹ của Google). Hai tập đoàn này hiện sở hữu những mạng lưới cáp trải rộng trên toàn cầu.

Những xung đột lợi ích

Ngày nay, trong thế giới hiện đại, những “đám mây” (cloud) không nằm trên bầu trời mà chạy xuyên suốt các đường cáp quang dưới đáy đại dương. Những đường cáp này vận chuyển hơn 99% lưu lượng dữ liệu liên lục địa, tạo điều kiện thuận lợi cho hơn 10.000 tỷ USD giao dịch tài chính mỗi ngày. Tuy nhiên, Trung Quốc đang tiến hành chiến tranh “vùng xám” nhằm vào các đường cáp kết nối Mỹ với các đồng minh và đối tác quan trọng như Philippines và Đài Loan.

Trung Quốc đang tiến hành chiến tranh “vùng xám” nhằm vào các đường cáp kết nối Mỹ với các đồng minh và đối tác quan trọng như Philippines và Đài Loan.

Tháng 9/2026, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Philippines đã phát hiện một tàu nghiên cứu của Trung Quốc gần các tuyến cáp ngầm, cách đảo Itbayat thuộc tỉnh Batanes 37 hải lý (68,5 km) về phía Tây Bắc. Con tàu đã phớt lờ nhiều nỗ lực liên lạc qua vô tuyến, phát tín hiệu định vị tự động (AIS) giả và điều động nhằm né tránh sự truy đuổi, kiểm soát của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Philippines. Ngày 1/10, Philippines đã điều động tàu lớn nhất của nước này tới để đối đầu và ngăn chặn tàu Trung Quốc.

Chưa có trường hợp nào được xác nhận cho thấy Trung Quốc cố tình cắt đứt cáp viễn thông của Philippines. Tuy nhiên, Bắc Kinh đang tăng cường tuần tra gần Batanes – nơi truyền thông nước này khẳng định là một phần của Trung Quốc. Thiết bị không người lái (drone) dưới nước của Trung Quốc đã được tìm thấy trong vùng biển Philippines.

Tháng 8/2026, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Đài Loan đã bắt gặp một tàu Trung Quốc phía trên Mạng lưới Cáp quang Thái Bình Dương (PLCN) – hệ thống cáp do Mỹ xây dựng kết nối California với Đài Loan và Philippines, với điểm cập bờ nằm ở bờ biển phía Đông đảo Luzon. Việc cố tình cắt cáp ngầm tại Philippines là nguy cơ hoàn toàn có thể xảy ra. Những hành vi phá hoại cáp ngầm của Trung Quốc nhằm vào Đài Loan cho thấy Philippines có thể phải đối mặt với nguy cơ tương tự.

Tháng 2/2023, các tàu Trung Quốc đã cắt đứt 2 tuyến cáp duy nhất nối liền quần đảo Matsu của Đài Loan với đảo chính. Khoảng 13.000 cư dân nơi đây mất truy cập Internet trong 6 tuần và phải dựa vào sóng vô tuyến để kết nối. Đầu năm 2025, thêm 2 tàu thuộc sở hữu của Trung Quốc đã cắt đứt tuyến cáp gần Đài Loan. Con tàu đầu tiên tắt hệ thống AIS và xuất hiện trở lại dưới một tên khác; trong khi con tàu thứ 2 sử dụng tên khác nhau trên thân tàu và hệ thống AIS, đồng thời khai báo sai với nhà chức trách.

Để ngăn chặn các hành vi phá hoại như vậy, Đài Loan đang tăng cường tuần tra, phát triển các hệ thống dự phòng vi sóng và vệ tinh, đồng thời công bố lộ trình và vị trí các tuyến cáp và trạm tiếp bờ cáp. Nhưng ngay cả PLCN, hiện đang chạy dọc bờ biển phía Đông Đài Loan tránh xa Trung Quốc, vẫn dễ bị phá hoại. Thiệt hại đối với các hệ thống dùng chung như PLCN có thể gián đoạn liên lạc giữa Mỹ, Đài Loan và Philippines, cản trở khả năng phối hợp trong trường hợp khủng hoảng.

Sự kiên cường của Đài Loan cũng là sự kiên cường của Philippines. Và sự kiên cường của Philippines cũng chính là sự kiên cường của Mỹ. Mỹ cùng đồng minh không thể ngăn chặn mọi trường hợp phá hoại cáp quang, nhưng nước này có thể ngăn chặn sự cố một đường cáp bị cắt khiến toàn bộ quốc gia mất kết nối mạng. Điều này đòi hỏi hành động trong 3 lĩnh vực: Giám sát, ứng phó và khả năng phục hồi.

Với vị thế lớn trong lĩnh vực tài chính và công nghệ, Mỹ nằm ở trung tâm của nhiều luồng dữ liệu trên thế giới. Năm 2013, chương trình bí mật mang tên “Fairview” bị tiết lộ, cho thấy Mỹ đã thu thập một lượng dữ liệu rất lớn đi qua các trạm cập bờ. Washington từng có thỏa thuận với nhà khai thác viễn thông AT&T để thu thập nhiều loại dữ liệu, trong đó có hàng triệu thư điện tử mỗi ngày.

Các trạm cập bờ vì thế trở thành một trong những mắt xích nhạy cảm nhất của toàn bộ mạng lưới. Việc tiếp cận được những cơ sở này có thể tạo điều kiện theo dõi một lượng lớn thông tin liên lạc đi qua hệ thống.

Bên cạnh nguy cơ bị thu thập dữ liệu, cáp ngầm ngày càng đối mặt với nguy cơ phá hoại. Tuy nhiên, việc một hoặc một số tuyến cáp bị đứt gần như không thể khiến Internet trên toàn thế giới tê liệt. Mạng lưới hiện có khả năng dự phòng cao và khi một tuyến gặp sự cố, dữ liệu có thể được chuyển sang những tuyến khác.

Vấn đề đáng lo hơn là việc gây hư hại cáp tương đối dễ thực hiện nhưng rất khó xác định ai đứng sau. Một con tàu chỉ cần kéo neo dưới đáy biển cũng có thể làm đứt cáp, trong khi việc xác định vị trí hư hỏng, điều tàu chuyên dụng tới hiện trường và tiến hành sửa chữa lại tốn nhiều thời gian và chi phí.

Đây cũng là một phương thức có thể được sử dụng trong chiến tranh hỗn hợp, bởi hạ tầng dân sự có thể bị phá hoại mà bên thực hiện không nhất thiết để lại dấu vết rõ ràng. Một vụ đứt cáp do neo tàu chẳng hạn có thể là tai nạn, nhưng cũng có thể là hành động có chủ ý, khiến việc xác định nguyên nhân và thủ phạm trở nên đặc biệt khó khăn.

Cuộc chiến đáng lo ngại

Vùng lãnh thổ Đài Loan đã tăng cường các biện pháp bảo vệ mạng lưới sau một số vụ cáp bị cắt gần hòn đảo. Một tàu tắt thiết bị phát tín hiệu nhận dạng và vị trí trên biển có thể bị phạt tới 300.000 USD (khoảng 267.000 euro). Nếu làm hư hại cáp, mức phạt có thể lên tới 3 triệu USD. Một số khu vực cũng cấm tàu thả neo để hạn chế nguy cơ cáp bị hư hỏng.

Mối lo lớn hơn nằm ở các trạm cập bờ. Đài Loan chỉ có 6 trạm như vậy, đồng nghĩa với việc nếu các cơ sở này gặp sự cố, khả năng kết nối của hòn đảo có thể chịu ảnh hưởng đáng kể. Vì vậy, các trạm cập bờ được giám sát đặc biệt chặt chẽ.

Đáng chú ý, vào tháng 12/2024 và tháng 1/2025, một tàu Nga xuất hiện quanh Đài Loan mà không rõ mục đích, trong khi gần như cùng thời điểm một số tàu Trung Quốc bị cho là có liên quan đến các sự cố tại biển Baltic. Những diễn biến này làm dấy lên nghi vấn về khả năng Nga và Trung Quốc phối hợp theo cách khiến việc xác định bên chịu trách nhiệm trở nên đặc biệt khó khăn.-

Nguyễn Công Bằng


Bài mới