Gần 40% lao động Việt Nam sống dưới mức kham khổ

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam hôm 12 tháng 7, công bố kết quả khảo sát về thu nhập và đời sống người lao động năm 2018, cho thấy chỉ có 17,4% người lao động có dư dật và tích lũy; và 43,7% cho biết vừa đủ trang trải cho cuộc sống. Trong khi đó, có tới gần 40% người lao động không đủ sống, hoặc sống kham khổ. Trong đó có  26,5% phải chi tiêu tằn tiện và kham khổ; 12,5% cho biết thu nhập không đủ sống, phải làm thêm giờ. Mức lương cơ bản hằng tháng khoảng 4,67 triệu đồng (tương đương 200 Mỹ Kim).

Với những con số khảo sát nói trên cho thấy bức tranh xã hội của người dân Việt Nam – đặc biệt là giới công nhân – quá u ám sau 30 năm đổi mới kinh tế.

Lương thấp nên ăn uống thiếu thốn, kham khổ, chấp nhận sống trong các khu nhà tạm bợ chừng vài mét vuông. Nhiều lao động phải chắt chiu chi phí sinh hoạt từ mớ rau, gói muối cho đến từng kWh điện. Nhiều người mẹ là công nhân đành phải gửi về quê nhà cho ông bà nội, ngoại chăm nom dùm, để tiếp tục lăn lộn kiếm từng đồng.

Không những thế, đời sống tinh thần của người lao động cũng vô cùng nghèo nàn. Nghèo về tinh thần của người lao động đó là họ không được đọc báo, không được hỗ trợ thông tin cho sự hiểu biết về các luật lao động, không được nâng cao về kiến thức lao động. Bên cạnh đó, vì đau đầu với việc chi tiêu nên việc giải trí đối với nhiều công nhân là điều xa xỉ.

Đời lao động, nhất là công nhân  tại các khu công nghiệp có rất nhiều cơ cực, chẳng có một giờ nghỉ ngơi. Chỉ cắm đầu cắm cổ làm và làm đủ thứ việc nặng nhọc nhất. Có tới 48,9% lao động trả lời không muốn làm thêm giờ, nhưng vì thu nhập thấp, nhiều người buộc phải tăng ca. Số giờ làm thêm quá nhiều khiến họ không còn thời gian để chăm lo cho bản thân và gia đình. Thu nhập tăng lên một chút nhưng thực tế cho thấy dù có làm thêm giờ, người lao động cũng chỉ đủ sống, chứ không thể có tích lũy về lâu dài. Trong khi đó, điều kiện lao động xấu, làm thêm giờ dẫn tới căng thẳng, mệt mỏi. Về lâu dài, hệ lụy tới sức khỏe thể chất và tâm thần người lao động là rất nghiêm trọng.

Nhiều Hội nghị, Hội thảo được chính quyền các cấp tổ chức nhằm bàn thảo về đồng lương cơ bản của người lao động, nhưng kết quả là người lao động vẫn sống dưới mức nghèo khổ, mòn mỏi theo năm tháng. Chỉ nhìn qua đời sống quá cực nhọc đã thấy cuộc sống của họ chẳng có gì bảo đảm cho quyền con người được sống. Ước mơ về cuộc sống chất lượng hơn dường như là cái gì đó xa vời.

Thực tại thì gian nan, còn tương lai thì mờ mịt. Mọi ngang trái đều có nguyên nhân từ chính đồng lương eo hẹp, trong khi giá cả các mặt hàng sinh hoạt đều tăng. Người lao động phải sống và làm trong hoàn cảnh gần như nô lệ, vì thế tranh chấp lao động tập thể có chiều hướng ngày càng tăng. Theo số liệu thống kê, tháng đầu năm 2018, cả nước có tới 131 cuộc đình công.

Người lao động chỉ có thể đình công để giải tỏa tạm thời những áp lực, bất công và ràng buộc bủa vây cuộc sống của họ. Tuy nhiên, trong tất cả cuộc đình công, biểu tình, công an, an ninh của nhà cầm quyền, công đoàn của nhà máy, công ty đều  xuất hiện nhanh chóng để trấn áp và ép buộc người lao động dừng đòi hỏi những quyền lợi chính đáng của họ.

Tại Việt Nam, ở mỗi tỉnh, mỗi huyện, mỗi cơ quan, công ty đều có một tổ chức gọi là “công đoàn”. Tuy nhiên, tổ chức này không hề tham gia đấu tranh đòi giới chủ nhân tuân thủ luật lệ lao động. Hệ thống công đoàn do nhà cầm quyền lập ra, phục vụ nhu cầu chính trị của đảng và lo bảo vệ đảng. Một hệ thống công đoàn không thể hoạt động độc lập và khách quan khi còn nằm trong sự quản lý chặt chẽ của nhà nước Việt Nam.

Người lao động là lực lượng trực tiếp làm ra nhu yếu phẩm cho xã hội. Vì thế, ở các nước dân chủ, quyền lợi của người lao động được bảo vệ bởi hệ thống luật pháp, công đoàn, đảng phái, và các tổ chức xã hội dân sự hoạt động rất hiệu quả. Còn ở Việt Nam, người lao động phải đơn độc chiến đấu với cả một hệ thống chính trị đồ sộ. Chủ doanh nghiệp thì bóp nghẹt quyền lợi người lao động thông qua những quy định hà khắc, ép làm thêm giờ, cắt xén lương thưởng… Trong khi đó, công đoàn thì không quan tâm, công an, quân đội và chính quyền thì bắt tay với chủ doanh nghiệp bóc lột người lao động.

Có thể nói, trong cái đà suy sụp chung về đời sống của toàn xã hội thì cuộc sống người lao động lại càng bị đẩy đến mức cùng cực. Lí do quan trọng nhất dẫn đến tình trạng này đó là người lao động Việt Nam hiện nay không được bảo vệ bởi một hệ thống nghiệp đoàn độc lập hoạt động mạnh mẽ, tự do và hiệu quả. Công đoàn độc lập không chỉ giúp người công nhân khẳng định chính kiến của họ trong bức tranh chính trị – xã hội, mà còn có thể giúp tăng thu nhập của người lao động.

Sức mạnh đối thoại của người lao động nằm nơi công đoàn, nếu như người công nhân Việt Nam cũng có một hệ thống công đoàn bảo vệ họ tốt như vậy, thì họ có cần phải đình công, biểu tình hay không? Câu trả lời chắc chắn là không !

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”