Giá Trị Pháp Lý Và Tính Chính Thống Của Hiến Pháp Việt Nam Từ cơ sở pháp lý của hiến pháp 1946

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Lời nói đầu:

Bài viết này có mục đích tái khám phá những giá trị cơ bản của hiến pháp 1946 và tra xét lại giá trị của hiến pháp hiện nay của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) dựa vào cơ sở của hiến pháp 1946.

Nếu hiến pháp 1946 là một hiến pháp hợp pháp khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, thì nguyên tắc lập hiến đòi hỏi các hiến pháp kế thừa của hiến pháp 1946 phải tuân thủ các điều khoản căn bản của hiến pháp 1946. Khi tra xét lại những thủ tục ban hành hiến pháp này và các hiến pháp sau đó đã không tuân thủ qui định của hiến pháp 1946 về việc thay đổi hiến pháp. Một khi hiến pháp kế thừa không tuân thủ các điều khoản lập hiến của hiến pháp mẹ thì hiến pháp kế thừa đó bất hợp hiến, bất hợp pháp và không có giá trị chính thống.

I . Những Ý Niệm Căn Bản Về Hiến Pháp:

HIẾN PHÁP là bộ luật tối cao của một quốc gia qui định nguyên tắc tổ chức guồng máy công quyền để thực hiện mục đích xây dựng một xã hội trong đó dân làm chủ đất nước nhằm bảo đảm dân quyền và nhân quyền của nhân dân, và đồng thời bảo đảm tính chất ổn định, chính thống và hợp pháp cuả nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền nào không thực thi hiến pháp, phản bội các điều khoản của hiến pháp, nhà cầm quyền ấy tự mình chấm dứt giá trị pháp lý và tính chính thống về giá trị quyền lực lãnh đạo quốc dân.

Để xác định quyền làm chủ đất nước của nhân dân, hiến pháp luôn luôn phải được toàn thể nhân dân chấp thuận và mọi sự thay đổi hiến pháp phải luôn luôn được toàn thể nhân dân quyết định bằng lá phiếu. Hiến pháp gọi đó là quyền phúc quyết. Quyền phúc quyết cộng với các quyền tự do ứng cử và bầu cử, quyền bình đẳng cơ hội về quyền lợi và nghiã vụ kinh tế chính trị văn hóa, và các quyền công dân khác xác định nhân dân là chủ nhân ông của đất nước. Khi nhân dân được phúc quyết hiến pháp hay được tự do ứng cử và bầu cử đó là lúc họ thực sự hành sử quyền làm chủ đất nước của mình.

II. Sự Ra Đời Của Hiến Pháp 1946

Năm 1946, Quốc Hội dân cử đầu tiên đã được bầu lên bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu đầu tiên của đất nước ta. Sau đó quốc hội được bổ xung thêm các dân biểu là những nhân sĩ và các nhà cách mạng chống Pháp không cộng sản. Quốc Hội đầu tiên này tập hợp được nhiều thành phần xã hội và đảng phái chính trị có những xu hướng khác nhau. Ngoài các nhà cách mạng tả phái mà đại diện là các ông Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, có sự tham dự của các nhà cách mạng tiên khởi thời Phan Bội Châu như cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng với các nhà cách mạng hữu phái như các ông Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam, Trần Trung Dung v.v… [2] [3] [4]. Sau đó, Quốc Hội bầu ra một Ủy Ban Dự Thảo Hiến Pháp đã gồm 11 người, thuộc mọi thành phần, là đại biểu của các tổ chức, đảng phái chính trị và các tầng lớp nhân dân khác nhau do ông Hồ Chí Minh chủ trì.

Ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc Hội Việt Nam đã thông qua hiến pháp đầu tiên cho một nước Việt Nam độc lập.

Về phần nội dung, Hiến Pháp 1946 đã qui định những quyền căn bản của công dân trong đó có quyền bình đẳng về kinh tế, chính trị, văn hóa (điều 6), quyền bình đẳng trước pháp luật (điều 7), quyền tự do ứng cử và bầu cử (điều 18), nhân dân có quyền phúc quyết về hiến pháp (điều 21). Hiến Pháp 1946 còn đi xa hơn bằng cách cho phép những người ngoại quốc tranh đấu cho tự do dân chủ mà phải trốn tránh được cư ngụ trên đất Việt Nam (điều 16)

Quan trọng nhất là nó không hề có một điều khoản nào qui định là một đảng phái nào hay một ý thức hệ nào là độc tôn và độc quyền lãnh đạo đất nước như các hiến pháp sau này của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay CHXHCNVN.[5]

Đứng trên phương diện lịch sử, hiến pháp 1946 là cơ sở pháp lý khai sinh ra nước Việt Nam độc lập sau hơn 80 năm bị mất chủ quyền về tay thực dân Pháp. Vì cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ sau khi quốc hội thông qua hiến pháp nên hiến pháp 1946 không được chính thức công bố và cuộc tổng tuyển cử nghị viện nhân dân không được thi hành. Tuy nhiên, theo tài liệu của đảng cộng sản thì chính phủ và ban thường vụ quốc hội luôn luôn dựa vào tinh thần và nội dung hiến pháp 1946 để điều hành mọi hoạt động trong nước [5]. Và hiến pháp đó có giá trị cho đến năm 1960 khi hiến pháp 1959 được ban hành.

Tài liệu đảng Cộng sản cũng đánh giá như sau:

Hiến Pháp 1946 là một bản hiến pháp cô đúc, khúc chiết, mạch lạc và dễ hiểu với tất cả mọi người. Nó là bản hiến pháp mẫu mực trên nhiều phương diện. [6]

Mặc dù chính phủ kháng chiến ra đời không theo thủ tục của hiến pháp vì hoàn cảnh chiến tranh, và mặc dù những điều khoản của hiến pháp đã bị nhà nước vi phạm, chúng ta có thể xác định được rằng chính phủ đã công nhận hiến pháp 1946 là khế ước hợp pháp của quốc dân Việt và nhà cầm quyền đương thời. Hiến Pháp 1946 xác định những giá trị căn bản về văn hóa, chính trị và kinh tế và biến những giá trị đó thành những lý tưởng và hoài vọng dân tộc mà thế hệ 1945 đã hy sinh xương máu để chiến đãu và bảo vệ. Đồng thời nó xác định nhân dân là chủ nhân ông tuyệt đối của đất nước.

Do đó, hiến pháp 1946 là một hiến pháp tốt, có giá trị pháp lý, và là nền tảng pháp lý ắt có và đủ để xây dựng nước Việt Nam mới, tự do dân chủ và độc lập. Hiến pháp đó là nền tảng pháp lý cho mọi thay đổi pháp lý của các hiến pháp kế thừa.

III. Cái Chết Oan Khiên Của Hiến Pháp 1946 Và Tính Chất Bất Hợp Pháp Của Các Hiến Pháp Kế Thừa

Xác định tính cách hợp pháp và hợp lý của hiến pháp 1946 để nhấn mạnh một điểm là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (cho đến năm 1980) và nước CHXHCNVN (từ năm 1980 cho tới nay) đều phải mang tính kế thừa và mang tính liên tục về mặt pháp lý, tinh thần và nội dung của hiến pháp 1946.

Sau năm 1946, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cho thêm tất cả là ba hiến pháp. Các hiến pháp tuần tự ra đời trong các năm sau đây: 1959 ban hành năm 1960, 1980 và 1992. Tài liệu đảng CS viết về thủ tục ra đời của hiến pháp 1959, là bản hiến pháp kế thừa trực tiếp bản hiến pháp 1946, như sau:

“Hiến pháp 1946, hiến pháp dân chủ đầu tiên của nhà nước ta đã hoàn thành sứ mệnh của nó, nhưng so với tình hình và nhiệm vụ cách mạng mới nó cần được bổ sung và thay đổi. Vì vậy, trong kỳ họp lần thứ sáu, Quốc hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà khoá I đã quyết định sửa đổi hiến pháp 1946 và thành lập ban dự thảo hiến pháp sửa đổi”.

Tài liệu viết tiếp:

“Sau khi làm xong bản dự thảo đầu tiên, tháng 7 năm 1958 bản dự thảo đã được thảo luận trong các cán bộ trung cấp và cao cấp thuộc các cơ quan quân dân, chính, đảng. Sau đợt thảo luận này, bản dự thảo đã được chỉnh lý lại vào ngày 1 tháng 4 năm 1959 đem công bố để toàn dân thảo luận và đóng góp ý kiến xây dựng. Cuộc thảo luận này làm trong bốn tháng liền tại khắp nơi trong các cơ quan, xí nghiệp, trường học và các tổ chức khác của nhân dân, ở thành thị và nông thôn, việc nghiên cứu và thảo luận dự thảo hiến pháp tiến hành sôi nổi và đã trở thành một phong trào quần chúng rộng rãi có đủ các từng lớp nhân dân tham gia”.

Tài liệu trên kết luận về phần thủ tục thay đổi hiến pháp năm 1959 như sau:

“Ngày 18-12-1959, tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khóa 1, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc báo cáo về dự thảo hiến pháp sửa đổi. Ngày 31-12-1959, quốc hội đã nhất trí thông qua hiến pháp sửa đổi và ngày 1-1-1960 chủ tịch ký sắc lệnh công bố hiến pháp.” [7]

Khi bàn về hiến pháp 1959, tài liệu của đảng CSVN viết như sau:

“Hiến Pháp 1959 là sự kế thừa và phát triển của hiến pháp 1946 trong giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam”.[7]

Những trích dẫn kể trên cho thấy nhà nước tự ý tuyên bố là hiến pháp 1946 đã “hoàn thành sứ mệnh” của nó mà không nói rõ ràng thế nào là “sứ mệnh của hiến pháp” và thế nào là “hoàn thành”.” Trong hiến pháp 1946 không hề có điều khoản nào xác định “sứ mệnh của hiến pháp” và ấn định rằng khi hiến pháp “hoàn thành” sứ mệnh của nó thì giá trị thi hành của hiến pháp bị chấm dứt.

Thế thì, lý do khai tử hiến pháp 1946 hoàn toàn vô căn cứ. Cái chết của hiến pháp 1946 là một cái chết oan khiên, cái chết ngụy tạo. Hiếp Pháp 1946 đã bị đảng CSVN xé bỏ một cách tức tưởi vì hiến pháp 1959 không có lý do chánh đáng và hợp pháp để thay thế hiến pháp 1946.

Hơn nữa, vì nhà nước xác nhận hiến pháp 1959 là hiến pháp kế thừa của hiến pháp 1946 và đã cam kết điều hành nước theo tinh thần và nội dung của hiến pháp 1946 nên sự thay đổi hiến pháp cùng phại tuân thủ yêu cầu của hiến pháp 1946.

Thủ tục thay đổi hiến pháp năm 1959 theo tài liệu của chính đảng Cộng sản đã chứng minh sự ra đời của hiến pháp 1959 đã không theo đúng nguyên tắc qui định trong điều 70 của hiến pháp 1946. Hiến pháp 1946 qui định rõ ràng, minh bạch, ngắn gọn và dễ hiểu là những thay đổi hiến pháp phải được nhân dân phúc quyết.

Điều 70 của hiến pháp 1946 liên quan đến vấn đề thay đổi hiến pháp viết rằng:

“Sửa đổi hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu
b) Nghị viên bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi.
c) Những điều thay đổi khi đã được nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.”

Trong khi đó, điều 112 qui định thủ tục Sửa đổi Hiến Pháp của họ 1959 được viết như sau:

“Chỉ có quốc hội mới có quyền sửa đổi hiến pháp. Việc sửa đổi phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu quốc hội biểu quyết tán thành”. Như vậy, với hiến pháp 1959, nhà cầm quyền đã loại hẳn vai trò phúc quyết của nhân dân.

Việc đem dự thảo hiến pháp ra cho “toàn dân” thảo luận và đóng góp ý kiến “một cách sôi nổi” là một thủ tục tốt, nhưng hoàn toàn không có giá trị pháp lý. Hiến Pháp 1946 không đòi hỏi nhân dân phải thảo luận và đóng góp ý kiến một cách … sôi nổi. Hiến Pháp 1946 đòi hỏi nhân dân phải có quyền phúc quyết mọi thay đổi hiến pháp. Thủ tục phúc quyết này cần được hiểu là phải được thực hiện qua một cuộc trưng cầu dân ý (referndum) tự do để thể hiện sự chấp thuận của toàn dân. [8]

Các hiến pháp từ năm 1959 trở đi đã loại bỏ hẳn vai trò phúc quyết của nhân dân trong thủ tục thay đổi hiến pháp. Vì quyền phúc quyết những thay đổi hiến pháp xác định quyền làm chủ đất nước của nhân dân, do đó, khi nhân dân không còn quyền phúc quyết hiến pháp, thì quyền làm chủ đất nước đã bị tước đoạt. Chúng ta có thể kết luận rằng, cái chết của hiến pháp 1946 đánh dấu một giai đoạn lịch sử mà người dân Việt Nam đã bị cướp đoạt quyền làm chủ đất nước.

Vì sự thể điều 70 hiến pháp 1946 qui định thủ tục pháp lý của sự thay đổi hiến pháp,

Vì sự thể lý do sửa đổi hiến pháp có tính chất ngụy tạo,

Vì sự thể thủ tục sửa đổi hiến pháp để cho ra đời hiến pháp 1959 đã vi phạm nghiêm trọng điều 70 này,

Vì sự thể hiến pháp 1959 tước đoạt quyền sửa đổi hiến pháp của nhân dân VN.

Chúng ta có thể khẳng định rằng, các hiến pháp từ 1959 trở đi đã phản bội lý tưởng và ước vọng của nhân dân ở đỉnh cao nhất của lòng yêu nước của thế hệ thanh niên và nhân dân ở thời đại 1945.

Đồng thời, hiến pháp 1959 cùng các hiến pháp xuất hiện sau đó hoàn toàn bất hợp hiến và bất hợp pháp vì không có tính kế thừa và tính liên tục về mặt pháp lý, tinh thần và nội dung của hiến pháp 1946. Do đó, các hiến pháp kế thừa không có năng lực pháp lý để xác định tính chất hợp pháp và chính thống của nhà cầm quyền.

IV. Lối Ra và Lối Về

Vì quyền phúc quyết của nhân dân về mọi thay đổi hiến pháp xác định quyền làm chủ đất nước, sự thể đảng Cộng sản ngang nhiên dùng hiến pháp 1959 để bãi bỏ quyền phúc quyết trong thủ tục lập hiến của người dân là hành vi tước đoạt quyền dân chủ của nhân dân Việt Nam. Nhận định về tính chất dân chủ của thủ tục lập hiến của nước ta hiện nay, luật sư Nguyễn Văn Thảo, cố vấn pháp luật của quốc hội và bộ chính trị đảng Cộng sản Việt Nam, trình bày trong bài viết “Soạn thảo, sửa đổi hiến pháp, và thực hiện bảo vệ hiến pháp” đăng trong tạp chí Cộng sản số 12 tháng 6 năm 2001, cho rằng thủ tục lập hiến của các hiến pháp xuất hiện sau hiến pháp 1946 không có tính cách dân chủ. Trong bài này luật sư Thảo đã có những nhận định về thủ tục soạn thảo hiến pháp 1946, 1959, 1992 như sau:

“Thực tiễn nước ta có hai công thức soạn thảo (hiến pháp):
“Ban soạn thảo hiến pháp + trưng cầu dân ý (hiến pháp 1946)
“Ban soạn thảo hiến pháp + hỏi ý kiến nhân dân (hiến pháp 1959, 1980, 1992)

Trong hai công thức trên, tổ chức trưng cầu dân ý là một thành tựu về phát huy dân chủ trực tiếp, thực chất là để từng công dân tham gia trực tiếp vào công việc qua hiến pháp.

Công thức thành lập ủy ban soạn thảo, tổ chức lấy ý kiến nhân dân rồi trình lên quốc hội thông qua thì việc lấy ý kiến nhân dân khác hẳn với trưng cầu ý dân. Tập hợp ý kiến của nhân dân để chỉnh lý bản dự thảo hiến pháp, công dân không được tỏ thái độ trực tiếp với dự thảo hiến pháp, không tham gia việc thông qua hiến pháp.” [10]

Một thủ tục soạn thảo hiến pháp mà “công dân không được tỏ thái độ trực tiếp với dự thảo hiến pháp, không tham gia việc thông qua hiến pháp” xác định tính chất mất dân chủ của hiến pháp này. Đó là trường hợp ra đời của các hiến pháp 1959, 1980 và 1992. Đồng thời đó là lời xác minh sự vi phạm trầm trọng điều 70 cuả hiến pháp 1946 về nguyên tắc trưng cầu dân ý những thay đổi hiến pháp.

Với lý luận hiến pháp, luật sư Thảo muốn thay mặt đảng Cộng sản Việt Nam khéo léo nhắn nhủ với nhân dân rằng hiến pháp hiện nay hoàn toàn không có tính chất dân chủ, vì trên cơ sở điều 70 của hiến pháp 1946, những hiến pháp sau này không hợp hiến và hoàn toàn không có giá trị pháp lý.

Một chế độ hợp pháp không thể được xây dựng trên một hiến pháp bất hợp pháp. Đây là khủng hoảng hiến pháp lớn nhất trong mọi khủng hoảng hiến pháp liên quan đến giá trị chính thống (le gitimacy) của chế độ.

Mặc khác, sự hiện diện của các đảng phái không cộng sản trong việc hình thành hiến pháp 1946 cho thấy rằng có một mối tương quan chặt chẽ giữa tinh thần dân chủ đa nguyên và hiến pháp 1946. Nếu hiến pháp 1946 thể hiện những lý tưởng và ước vọng của thế hệ 1945 về tổ quốc độc lập, về một thể chế dân chủ đa nguyên, là biểu tượng sự đoàn kết của toàn dân trong công cuộc đấu tranh chống Pháp, là đỉnh cao của các phong trào cách mạng từ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh, và phong trào cộng sản yêu nước thì cái chết của nó là sự phản bội toàn bộ lý tưởng của thế hệ 1945 và của nhân dân Việt Nam. Do đó, muốn tái lập tính chính thống lịch sử và pháp lý của chế độ hiện nay, muốn giải trừ chuyên chính, muốn xây dựng một chế độ dân chủ đa nguyên, điều thiết yếu là quốc hội và nhà nước Việr Nam phải trở về với những giá trị của hiến pháp 1946 và mọi thay đổi hiến pháp phải tuân thủ những qui định điều 70 của hiến pháp này.

V. Kết Luận

Vì hiến pháp là luật pháp tối cao xác định giá trị pháp lý của nhà nước, do đó, với một hiến pháp không có cơ sở pháp lý như hiến pháp hiện nay, nhà nước không có năng lực pháp lý để tồn tại. Và nhà nước không thể tiếp tục tồn tại và lãnh đạo đất nước trong tình trạng không hợp pháp, không hợp hiến và không có tính chất chính thống.

Đối với nhân dân Việt Nam, vấn đề không phải là vấn đề thay đổi, chấp vá vài ba chương, hay hai ba điều khoản của hiến pháp hiện nay như đảng Cộng sản Việt Nam đề nghị, hoặc chỉ bỏ điều 4 hiến pháp như một số nhà đấu tranh dân chủ đề nghị. Những thay đổi hiến pháp chỉ có giá trị khi quyền phúc quyết hiến pháp của nhân dân được tái lập cùng với sự hình thành một ủy ban bầu cử quốc gia độc lập và đa nguyên để bảo đảm cho tính chất trong sáng của các cuộc bầu cử hoặc trưng cầu dân ý theo như tinh thần hiến pháp 1946.

Khổng Tử viết: “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Trong thời đại dân chủ, một nhà nước không có cơ sở hiến pháp dân chủ hợp pháp và chính thống để chứng minh sự tồn tại của nó là một trường hợp “thượng bất chính” nghiêm trọng nhất của mọi trường hợp “thượng bất chính” và nó sẽ dẫn tới một kịch bản “hạ tắc loạn”.

Chúng ta có thể nhận định được ngay là nỗ lực giải quyết khủng hoảng hiến pháp là đầu mối để tháo gỡ chế độ thượng bất chính hiện nay. Nó sẽ là căn cứ địa hồi sinh dân tộc. Bất kỳ nhân dân một chọn lựa phương cách giải quyết khủng hoảng hiến pháp như thế nào, hoặc quay trở về với hiến pháp 1946 hoặc thực hiện một hiến pháp mới, tất cả đều phải tuân thủ nguyên tắc lập hiến của hiến pháp 1946. Nó sẽ là cơ sở pháp lý ắt có cho sự ra đời của một nước Đại Việt thời đại 2000. Chỉ có giá trị của hiến pháp 1946 mới có thể tiếp nối giá trị chính thống về lịch sử, phục hồi chỗ đứng lịch sử của các đảng phái cách mạng yêu nước, và bảo toàn giá trị chính thống của cuộc chiến tranh giành độc lập.

Với một hiến pháp xác định quyền làm chủ đất nước của người dân, nhân dân Việt mới có thể hành xử quyền làm chủ đất nước của mình. Từ đó, người dân có thể thực hiện quyền chọn lựa người lãnh đạo đất nước mà không phải qua những cơ quan đề cử của đảng, để đồng tiền của người dân bỏ ra thực hiện những cuộc bầu cử không bị lãng phí, để mọi người cùng nhau xây dựng một xã hội dân sự trên nền tảng chế độ dân chủ pháp trị.

Chỉ có một chính quyền có giá trị chính thống về lịch sử và pháp lý mới có đầy đủ cơ sở vật chất và tinh thần để thực hiện công cuộc phục hưng dân tộc, phục hoạt văn hóa, và bảo toàn lãnh thổ, để tiếp nối sứ mạng cứu quốc tồn chủng của tiền nhân. Cơ sở vật chất và tinh thần đó của dân tộc và sức mạnh để đưa đất nước ra khỏi cơ chế độc đoán trì trệ và ao tù của chuyên chính, để đưa dân tộc Việt vào giai đoạn cất cánh kinh tế toàn dân. Có như thế, nước Đại Việt của thời đại 2000 mới có thể hoà nhập được với cộng đồng các dân tộc văn minh tiến bộ của nhân loại ở thế kỷ 21, và để rửa mối nhục nghèo đói và lạc hậu của xã hội chủ nghiã hiện nay.

8/8/2002 được viết lại 3/24/2005
Luật Sư Nguyễn Xuân Phước

Chú thích:

- [1] Jean Jacque Rousseau, Social Contract, lưu trử ở http://books.mirror.org/gb.rousseau.html
- [2] Nguyễn Xuân Chữ, Hồi Ký Nguyễn Xuân Chữ. Nguyễn Xuân Phát và Chính Đạo hiệu đính, Văn Hoá, Houston ấn hành 1996, trang 301-310.
- [3] Chú thích của người viết: Các tài liệu lịch sử về cuộc bầu quốc hội và danh sách quốc hội rất là thiếu sót. Tôi rất mong được các nhà sử học trong và ngoài nước góp thêm ý kiến và sử liệu.
- [4] Nguyễn Lý Tưởng, Thuyền Ai Đợi Bến Vân Lâu, trang 77, Tác giả xuất Bản Hoa Kỳ 2001
- [5] Hoàn Cảnh Ra Đời Và Nội Dung Cơ Bản của Hiến pháp 1946, http://cpv.org.vn/vietnam/hiến pháp46.html
- [6] Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của hiến pháp 1946 http://cpv.org.vn/vietnam/hiến pháp46.html
- [7] Hoàn cảnh ra đời và nội dung cơ bản của hiến pháp 1959 http://cpv.org.vn/vietnam/hiến pháp59.html
- [8] Nguyễn Văn Thảo, “Soạn thảo, sửa đổi hiến pháp và thực hiện bảo vê hiến pháp.” Tạp chí cộng sản tháng 6-2001 http://www.cpv.org.vn/tccs/122001/1…
- [10] Nguyễn Văn Thảo, soạn thảo, sửa đổi hiến pháp. Tạp chí cộng sản tháng 6-2001

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Bộ Tư lệnh Cảnh vệ tổ chức lễ khai mạc Hội thao truyền thống lần thứ 34, chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Lực lượng Cảnh vệ Công an nhân dân (16-2-1953/ 16-2-2023) hôm 6/1/2023, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Ảnh: Internet

Công an không nể mặt quân đội rồi!

Bộ Công an đã trình Quốc hội về dự thảo Luật Cảnh vệ, theo đó thì bộ trưởng Bộ Công an sẽ có quyền áp dụng biện pháp cảnh vệ. Lưu ý rằng khi trình dự thảo này thì ông Tô Lâm vẫn còn là bộ trưởng Bộ Công an.

Như vậy bộ trưởng Bộ Công an sẽ được xếp ngang hàng tứ trụ lãnh đạo cao nhất trong hệ thống chính trị của đảng cộng sản, gồm tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch quốc hội. Có lẽ điều này đã khiến Bộ Quốc phòng cảm thấy bị “lép vế.” Cho nên ngay sau đó, ngày 24/5, Trung tướng Nguyễn Quốc Duyệt, Tư lệnh Bộ tư lệnh Thủ đô đã yêu cầu phải bổ sung quyền áp dụng biện pháp cảnh vệ cho bộ trưởng Quốc phòng bên cạnh bộ trưởng Công an để đảm bảo đồng bộ.

Ông Tô Lâm trở thành chủ tịch nước thứ ba của Việt Nam trong vòng hai năm. Ảnh: AP

Lên chủ tịch nước, thế lực của ông Tô Lâm lớn đến đâu?

Ông Lâm lên làm chủ tịch nước trong một nhiệm kỳ nhiều biến động nhất trong lịch sử đảng Cộng sản Việt Nam khi lần lượt Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Thường trực Ban bí thư Trương Thị Mai đều mất chức do kết quả của công cuộc ‘đốt lò’ của ông Trọng mà ông Tô Lâm là trợ thủ tích cực.

Sau khi các nhân vật này, vốn có thứ bậc cao hơn ông Tô Lâm trong Bộ Chính trị, ra đi, ông Lâm trở thành một trong số rất ít ỏi những người đủ điều kiện để lên làm tổng bí thư theo quy định của đảng.

Nhà hoạt động nhân quyền cho người Thượng Y Quynh Bdap. Ảnh: VOA

Các nhóm nhân quyền kêu gọi Thái Lan chớ dẫn độ Y Quynh Bdap về Việt Nam

Hôm 13/6, các nhóm nhân quyền kêu gọi Thái Lan không dẫn độ một nhà hoạt động Việt Nam bị giam giữ ở Bangkok, nói rằng ông này có thể gặp nguy hiểm nếu bị trả về Việt Nam, AP đưa tin.

Ông Y Quynh Bdap, người được cấp quy chế tị nạn của Liên Hiệp Quốc ở Thái Lan, bị cảnh sát địa phương bắt giam hôm 11/6, một ngày sau khi ông gặp các quan chức đại sứ quán Canada khi ông xin tị nạn ở đó, theo Tổ chức Quyền Hòa bình, nơi đã liên lạc với ông trước đó.

Tàu Cảnh sát biển Trung Quốc (phải) bắn vòi rồng vào một tàu được Hải quân Philippines thuê để thực hiện nhiệm vụ tiếp tế thường lệ cho quân đội đóng tại bãi cạn Scarborough và Bãi Cỏ Mây hôm 5/3/2024 ở Biển Đông. Ảnh: Ezra Acayan/ Getty Images

Biển Đông và Đệ Tam Thế Chiến

Từ ngày 15/6, lực lượng Cảnh Sát Biển (Hải Cảnh) Trung Quốc sẽ bắt đầu khám tàu và bắt người trên các vùng biển theo một quy định mới có tên “Thủ tục thực thi luật hành chánh của các cơ quan tuần duyên” do chính phủ nước này ban hành hôm 15/5. Hành động mới của Trung Quốc chắc chắn làm leo thang xung đột trên Biển Đông, thậm chí khơi mào đụng độ quân sự trực tiếp với Hoa Kỳ và mở màn cuộc chiến tranh Đệ Tam Thế Chiến.