Hà Nội Vẫn Triệt Để Tôn Trọng Công Hàm Phạm Văn Đồng

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Xem đoạn video ngư dân ta van lạy trước họng súng của bọn hải quân Trung Quốc, người Việt Nam không ai là không cảm thấy nhục nhã và căm hận đến bầm gan tím ruột. Nhục nhã và căm hận!…. Nhưng, căm hận ai? Và vì đâu mà nên nông nỗi này mới là điều cần phải xác định cho rõ. Vì nếu nhìn vấn đề sai trật thì cách giải quyết cũng sẽ sai trật.

Vấn đề là, các vùng biển mà dân ta bị làm nhục là nơi mà Trung Quốc nói đó là biển của họ, và họ chỉ thi hành luật pháp của nước họ. Còn Cộng Sản Việt Nam cũng nói đó là biển của Việt Nam. Tình trạng “sư nói sư phải, vải nói vải hay” này đã diễn ra từ mấy chục năm nay, và là những tranh chấp quốc tế, nhưng Hà Nội không dám đưa ra quốc tế để giải quyết. Còn Trung Quốc thì ngày càng ngang ngược lấn tới. Vì vậy cần phải xem xét lại vấn đề từ đầu để nhận biết nguyên nhân.

Bài này không nhắc tới các giai đoạn lịch sử trước khi có sự hiện diện của nhà nước Cộng Sản Việt Nam (vì các giai đoạn đó không liên hệ đến họ), mà chỉ đề cập đến cách hành xử của nhà nước này đối với những tranh chấp trên biển Đông từ khi họ nắm quyền cho đến nay. Một cách ngắn gọn, người ta có thể thấy những điều này qua bài viết “Những vấn đề về chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước láng giềng”, của ông Lê Minh Nghĩa, cố Trưởng ban Ban Biên giới (1), mà nội dung tương tự cũng đã được một số báo chí của Đảng đăng lại gần đây. Qua đó, ở phần “Về các vấn đề biển Đông”, cho đến trước năm 1975, Ông Lê Minh Nghĩa chỉ nêu ra được những khẳng định và xác lập chủ quyền trên biển Đông của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, mà không đưa ra được bất cứ một hành động tương tự nào của nhà nước Cộng Sản Việt Nam; mặc dù ông có nhắc đến lời tuyên bố ngày 15/8/1951 của Thủ tướng Trung Quốc, ông Chu Ân Lai cho rằng, các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (theo lối gọi của Trung Quốc) là của nước Tàu. Tuy có nhắc đến việc Trung Quồc chiếm Hoàng Sa năm 1974, nhưng ông không đề cập gì về phản ứng của Nhà cầm quyền Hà Nội trước việc này; Ông cũng làm như không biết là đã từng có trận tử chiến của hải quân Việt Nam Cộng Hoà để bảo vệ Hoàng Sa. Ông không hề nhắc đến cuốn bạch thư năm 1974 về Hoàng Sa Trường Sa của Việt Nam Cộng Hoà với những bằng chứng lịch sử và khẳng định chủ quyền của Việt nam đối với 2 quần đảo này (2). Ông cũng không nói gì về các nỗ lực đấu tranh của Việt Nam Cộng Hoà trên các diễn đàn quốc tế để giành lại Hoàng Sa (3), và không hề đả động gì đến sự kiện tại Hội Nghị Quốc Tế về luật biển tại Caracas, nước Venezuela (tháng 6 năm 1974) trước những bằng chứng hiển nhiên của phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa Trường Sa, thì Trung Quốc không đưa ra được một bằng chứng nào, họ chỉ có thể tung ra vài tuyên bố lăng mạ hạ cấp và bỏ phòng họp đi ra…..

Có người sẽ cho rằng, trước năm 1975 Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam Cộng Hoà, thì Cộng Sản Việt Nam không có trách nhiệm liên hệ, nên ông Lê Minh Nghĩa không đề cập đến. Nhưng nếu thế thì sẽ phải giải thích như thế nào về các dữ kiện sau đây:

Theo thông tấn xã (CSVN) thì ngày 15/06/1956, trong buổi tiếp tân dành cho viên xử lý thường vụ Tham Tán đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, Li Shimin, thứ trưởng Ngoại Giao chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức là cộng sản Việt Nam), Ung Văn Khiêm đã chính thức xác nhận là “Dựa vào những tài liệu mà phía Việt Nam có trong tay, các đảo Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa), xét về mặt lịch sử, là thuộc về Trung Quốc”. Cùng có mặt trong buổi tiếp tân này, Lê Lộc, xử lý thường vụ giám đốc Phòng Á Châu Sự Vụ, đã nói thêm: “Trên mặt lịch sử, các đảo Tây Sa và Nam Sa đã là đất đai của Trung Quốc từ dưới đời Nhà Tống (960-1279)“. (4)

Ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Quốc tuyên bố lãnh hải của họ là 12 hải lý, áp dụng cho các vùng lãnh thổ của Trung Quốc, trong đó kể cả các quần đảo Dongsha, Xisha (Tây Sa, tức Hoàng Sa của Việt Nam), Zhongsha, Nansha (Nam Sa, tức Trường Sa của Việt Nam). Mười ngày sau đó, ông Phạm Văn Đồng, đại diện cho chính phủ do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo, gửi Thủ Tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc một công hàm xác nhận “Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức Cộng Sản Việt Nam) công nhận và ủng hộ công bố của chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trong bản công bố ngày 4 tháng 9 năm 1958″. Nói cách khác, qua công hàm này cộng sản Việt Nam đã chính thức xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Cộng. Điều cần nhấn mạnh là, ông Phạm văn Đồng, nhân danh nhà nước Cộng Sản Việt Nam đã chẳng những “ghi nhận”, “tán thành”, mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận của Trung Quốc, như đã được xác định trong bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa, mà Trung Quốc đã đưa ra.

Trở lại bài viết của ông Lê Minh Nghĩa, thì từ năm 1975 trở đi, Cộng Sản Việt Nam và Cộng Sản Trung Quốc đã có một số những đàm phán về vấn đề biển Đông. Tuy nhiên, bài viết của ông Lê Minh Nghiã cũng như thực tế cho thấy, chưa bao giờ Hà Nội có động thái nào để chính thức phủ nhận những tuyên bố của các giới chức Cộng Sản Việt Nam và công hàm của ông Phạm Văn Đồng nêu trên. Như thế có nghĩa là chúng vẫn còn nguyên giá trị. Do đó, chẳng ai ngạc nhiên trước sự im lặng gần như tuyệt đối của cả 15 thành viên Bộ Chính Trị đảng CSVN hay những tuyên bố chiếu lệ của người phát ngôn Bộ ngoại Giao VN. Xin nhắc lại, là ông bộ trưởng ngoại giao chưa hề dám mở lời phản đối Trung Quốc. Và thế là Trung Quốc tiếp tục dùng bản công hàm Phạm Văn Đồng như là một bằng chứng vững chắc nhất để xác định chủ quyền của họ trên Hoàng Sa và Trường Sa. Không những thế, gần đây, qua những cuộc đàn áp thanh niên sinh viên yêu nước biểu tình chống Trung Quốc xâm lược; hoặc bắt bớ các nhà dân chủ lên tiếng phản đối Trung Quốc, và các lệnh lạc của nhà cầm quyền Hà Nội yêu cầu ngư dân Việt Nam hãy tránh xa các vùng biển Trung Quốc chiếm đoạt, phải chăng là những hành động mà Hà Nội muốn thể hiện cho Bắc Kinh biết là họ vẫn đang thực hiện những điều đã cam kết trong công hàm Phạm Văn Đồng. Đó là “ghi nhận”, “tán thành” Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc; đồng thời chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” lãnh hải đó của Trung Quốc?

Do đó, sở dĩ Trung Quốc đã có thể làm nhục được ngư dân Việt Nam trên biển Đông, mà người Việt Nam chỉ biết ngậm hờn không làm gì được, là vì chính nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã dâng những vùng biền đó cho Trung Quốc, và còn hứa sẽ “triệt để tôn trọng” sự giao nhượng này. Với kinh nghiệm đau thương ở biển Đông, nếu chính quyền cộng sản Việt nam vẫn tiếp tục tồn tại để tạo thêm điều kiện cho Trung Quốc làm nhục dân tộc Việt Nam, thì viễn tượng một ngày nào đó đài truyền hình Trung Quốc chiếu cảnh đồng bào Tây Nguyên (hay ở những nơi khác trên lãnh thổ Việt Nam) lạy lục quân Trung Quốc xin tha mạng chỉ còn là vấn đề thời gian.

(1) http://www.tapchithoidai.org/ThoiDa…

(2)

PDF - 437.5 kb
Bạch Thư VNCH

(3) Nhớ lại và suy ngẫm về vụ Hải Chiến Hoàng Sa (1974),Vương Văn Bắc, Cựu Tổng trưởng ngoại Giao VNCH (http://www.nguoi-viet.com/absoluten…). Trong bài viết này, ông Vương Văn Bắc cũng đề cập đến nhiều nỗ lực (nhưng thất bại) của VNCH tiếp xúc và kêu gọi CSVN hãy cùng chống lại hoạ xâm lược của Trung Quốc.

(4) “Reassessing South Vietnam”, Frank Ching, Far East Economic Review, 02-10-1994

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Trực thăng UH-60M Black Hawk của quân đội Đài Loan bay theo đội hình trong cuộc tập trận phối hợp không-đối-đất hôm 5/8 – ngày đầu tiên của cuộc tập trận thường niên Hán Quang tại Cao Hùng. Ảnh: Cheng-Chia Huang/ AFP via Getty Images

Đài Loan tập trận thường niên để chuẩn bị đối phó nguy cơ bị Trung Quốc tấn công

Các tàu hải quân và một tàu ngầm được triển khai ở miền nam hòn đảo. Các xe tăng chiến đấu và các loại xe bọc thép khác thực hiện những cuộc diễn tập từ sáng sớm trên đường phố ở Đài Trung. Các tàu tuần tra của lực lượng tuần duyên cũng được triển khai, hộ tống các chuyến hàng tiếp tế, trong tình huống giả định bị Trung Quốc phong tỏa vùng biển phía đông hòn đảo.

Thứ trưởng Bộ Công an Đặng Hồng Đức tại lễ khởi công Dự án xây dựng nhà ở cho lực lượng công an tại Hưng Yên hôm 2 tháng Tám, 2026

Hưng Yên khởi công xây dựng hơn 1.400 căn hộ dành riêng cho công an

“Không thể vì đây là nhà ở xã hội mà hạ thấp các tiêu chuẩn về chất lượng và kiến trúc. Cán bộ, chiến sĩ CAND xứng đáng được sống trong những căn nhà có chất lượng tốt, thiết kế đẹp và môi trường sống văn minh.” Đó là lời phát biểu của Thứ trưởng Bộ Công an, Thượng tướng Đặng Hồng Đức tại lễ khởi công Dự án xây dựng nhà ở cho lực lượng công an tại xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên diễn ra vào ngày 2 Tháng Tám, 2026.

Điểm nóng mới nhất trong mối quan hệ đang xấu đi giữa Nhật Bản và Trung Quốc là Okinotori – hòn đảo cực nam của Nhật Bản – nơi các tàu hải quân Trung Quốc gần đây đã tiến hành các cuộc tập trận bắn súng máy. Trung Quốc không công nhận Okinotori là một hòn đảo. Ảnh: Nikkei/ nguồn ảnh: Kyodo và Reuters

Tại sao Trung Quốc phủ nhận cuộc gặp với ngoại trưởng Nhật Bản?

Ngày 23/7, một biên đội gồm bốn tàu hải quân Trung Quốc và Nga đã di chuyển về phía bắc qua Thái Bình Dương, ngoài khơi Inubosaki thuộc tỉnh Chiba, giáp Tokyo, trước khi tới vùng biển ngoài khơi Hokkaido, hòn đảo chính nằm ở cực bắc Nhật Bản, hai ngày sau đó.

Trong đội tàu có một tàu khu trục tên lửa Trung Quốc. Trước đó, ngày 19/07, con tàu này đã tiến hành tập trận bắn súng máy trong vùng EEZ của Nhật Bản gần Okinotori, hòn đảo nằm ở cực nam nước này.

Cánh đồng Yên Giang, phường Trường Vinh (Nghệ An). Ảnh: Lao Động

Nông nghiệp: Tài sản chiến lược trong kỷ nguyên tăng trưởng mới

Những biến động địa chính trị gần đây cho thấy rủi ro bên ngoài sẽ còn là trạng thái bình thường của kinh tế thế giới.

Trong bối cảnh ấy, sức mạnh của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô GDP mà còn bằng khả năng chống chịu trước các cú sốc. Nội lực vì thế trở thành yếu tố quyết định, và nông nghiệp là một bộ phận quan trọng của nội lực đó.