Hòa Thượng Thích Quảng Độ Lên Tiếng Về Việc Hà Nội Tố Cáo Giáo Hội “Tàng Trữ Bí Mật Nhà Nước”

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
JPEG - 23 kb

Sau hơn một năm im lặng kể từ khi xảy ra Sự Biến Lương Sơn vào ngày 9 tháng 10 năm 2003, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã gửi một lá thư đề ngày 21 tháng 10 năm 2004, gửi đến các ông Nông Đức Mạnh (Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam), ông Trần Đức Lương (Chủ tịch Nước), ông Phan Văn Khải (Thủ tướng), ông Nguyễn Văn An (Chủ tịch Quốc Hội) để đề cập về việc Hà Nội đã vu cáo Giáo Hội đã “tàng trữ bí mật nhà nước”. Trong lá thư này, Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã nhắc lại sự kiện Đức Tăng Thống Thích Huyền Quang, Hòa Thượng Thích Quảng Độ cùng các Chư Tăng trong phái đoàn đi từ Tu Viện Nguyên Thiều về Sài Gòn đã bị công an chận bắt ở Lương Sơn gần thành phố Nha Trang, và đưa đi quản chế theo khẩu lệnh của nhà nước Hà Nội trong suốt 378 ngày vừa qua. Điều mà Hòa Thượng Thích Quảng Độ nêu trong lá thư, không chỉ tố cáo sự khủng bố chính trị của nhà cầm quyền Hà Nội trong việc bắt giữ và quản chế quý Ngài một cách bất hợp pháp, mà còn phê phán một cách nghiêm khắc về lời phát ngôn vô trách nhiệm, cố tình vu cáo của ông Lê Dũng, phát ngôn nhân của Hà Nội, khi trả lời với báo chí quốc tế hôm ngày 10 tháng 10 năm 2003 rằng lý do bắt giữ Đức Tăng Thống và Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã tàng trữ “bí mật nhà nước”. Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã cho biết rằng lúc mà công an bắt giữ Đức Tăng Thống chỉ có không quá 10 đồng bạc trong túi và cả Hòa Thượng Thích Quảng Độ cũng đã không mang bất cứ giấy tờ gì, thì lấy đâu gọi là “tài liệu bí mật”?

Sự kiện Hòa Thượng Thích Quang Độ đặt thành vấn đề với nhà cầm quyền Hà Nội qua lời vu cáo nói trên của Lê Dũng, Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất muốn nhắc nhở với Hà Nội rằng phải chấm dứt những đối xử thù nghịch đối với Giáo Hội, sau khi Giáo Hội có hai lá thư yêu cầu Hà Nội phải chấm dứt sự quản chế đối với các vị lãnh đạo của Giáo Hội, nhưng đã không được Hà Nội hồi âm. Hai lá thư này gồm: Lá thư đề ngày 17.10.2003 của Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng Viện Hóa Đạo; và Lá thư đề ngày 19.4.2004 của Hòa thượng Thích Đức Chơn và Thượng tọa Thích Viên Định, nhân danh Lưỡng Viện để yêu cầu Hà Nội trả tự do cho hàng giáo phẩm bị quản chế hoặc bằng Quyết định hoặc bằng khẩu lệnh. Lá thư của Hòa Thượng Thích Quảng Độ, tuy chỉ trình bày những điều phải trái trong cách ứng xử của Hà Nội đối với sự biến Lương Sơn; nhưng cũng là một thách đố với nhà cầm quyền Hà Nội về việc họ vu cáo Ngài đã tàng trữ tài liệu bí mật. Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã viết “Tôi chỉ muốn cơ quan công quyền trả lời cho tôi biết “bí mật Nhà nước” tìm thấy trong túi xách tay của tôi ở Lương sơn hôm 9.10.2003 là gì? Nếu đã tìm thấy “bí mật Nhà nước”, thì tại sao cơ quan công an hay Nhà nước không công bố các “tài liệu” ấy ra cho nhân dân trong nước và công luận thế giới được am tường? Câu hỏi tôi đặt ra trên đây cốt thông giải cho bản thân tôi cũng như sự thắc mắc quá lâu của Phật giáo đồ ở trong và ngoài nước, cũng như giới bằng hữu quốc tế thường quan tâm đến vấn đề Việt Nam. Lời đáp cho câu hỏi này sẽ minh chứng về một Nhà nước Pháp quyền, điều mà mọi người đang trông đợi, và muốn chứng kiến trong thực tiễn?

Chắc chắn là Hà Nội sẽ tiếp tục im lặng và im lặng đối với lá thư của Hòa Thượng Thích Quảng Độ. Họ im lặng không phải không có “tài liệu bí mật nhà nước” để chứng minh cho sự vu cáo nói trên, vì họ dư sức tạo ra nhiều tài liệu ngụy tạo để hãm hại người dân; mà chỉ vì sức ép đấu tranh của Giáo Hội và của chúng ta chưa đủ mạnh để buộc Hà Nội phải lùi bước. Do đó sự lên tiếng của Hòa Thượng Thích Quảng Độ sau 378 ngày im lặng, không chỉ nhằm đặt vấn đề với Hà Nội mà còn bày tỏ một thực trạng đen tối của Giáo Hội trước thái độ lộng hành quá mức của đảng Cộng Sản, để cho các Phật tử và những người yêu chuộng tự do, có những hành động thích hợp với sự khó khăn của Giáo Hội hiện nay. Chúng ta nên đọc lá thư của Ngài Quảng Độ trong tinh thần Vô Úy từ chính mỗi người để sát cánh với Giáo Hội phá vỡ sự im lặng đầy thủ đoạn hiện nay của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”