Học gì từ Nguyễn Trường Tộ?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên “Trí thức cận thần” để đi trên con đường mới – con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân – thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần” và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.

Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.

Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.

Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?

Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người.

Trí thức độc lập

Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.

Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.

Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương “độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân”. Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền. Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy “coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ”, tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.

Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: “Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình.

“Trí thức cận thần”

Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua.

Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: “Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay… Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết”.

Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một “trí thức cận thần”: Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.

Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.

Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng. Do hành xử như một “trí thức cận thần”, không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng.

Bài học cho hậu thế

Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.

Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường “trí thức cận thần” của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.

Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.

Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường “trí thức cận thần”, để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân. Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành “đất nước cận thần”, và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.

Nguồn: http://trannhuong.com/

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…