Hội nghị “Cơm Áo và Tự Do” tại Malaysia

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Đỗ Hiếu, phóng viên RFA, 2009-12-28

Hiện đang có mặt tại Malaysia để tường trình Hội nghị “Cơm Áo và Tự Do” cho người lao động VN, phóng viên Đỗ Hiếu của Ban Việt Ngữ RFA đã hỏi chuyện các thành viên ban tổ chức hội nghị.

Những việc đã làm

Đỗ Hiếu: Câu hỏi đầu tiên xin được hỏi ông Đoàn Việt Trung từ Úc Châu đến. Ông là Tổng thư ký Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam. Xin ông cho biết, hội nghị diễn ra vào hai ngày 28 và 29 tháng 12 tại thủ đô Kuala Lumpur của malaysia là tiếp nối như thế nào với hội nghị tổ chức tại Warszawa, Ba Lan, cách đây 3 năm?

Ông Đoàn Việt Trung: Trong thời gian 3 năm vừa qua, chúng tôi đã làm được một số việc. Hội nghị kỳ này là với mục đích cho những công việc trong tương lai, cũng như để tân tạo lại những tổ chức nội bộ của Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động.

Nhân đây, tôi xin nói về một số việc mà chúng tôi đã làm trong 3 năm vừa qua. Điều thứ nhất liên hệ đến chính sách xuất khẩu lao động của nhà nước. Nhiều công ty xuất khẩu lao động do chính nhà nước Cộng sản Việt Nam cung cấp giấy phép, cũng như một số viên chức nhà nước đã tiếp tay trong việc lừa đảo người lao động bằng cách đưa cho họ những hợp đồng lao động giả, đồng thời tất cả mọi người lao động khi đến Mã Lai thì đều bị các công ty xuất khẩu lao động tước lấy hộ chiếu để giao cho chủ.

Vì thế, họ không thể quay trở lại Việt Nam và họ phải làm việc cho công ty dưới bất cứ điều kiện nào. Về vấn đề đó thì việc thứ nhất mà chúng tôi đã làm, là tố cáo một công ty ở Mã Lai trên một đài truyền hình lớn nhất của nước Úc là Đài Truyền Hình Số 7.

Ngay sau khi chuyện đó xảy ra, khoảng hai mươi ngàn công nhân đã được cải thiện điều kiện làm việc, tức là họ đã lấy lại được hộ chiếu, và được trả lại số tiền khoảng hai, ba ngàn Mỹ kim mà họ đã phải trao cho các công ty xuất khẩu lao động.

Thí dụ thứ nhì liên hệ đến chính sách của nhà nước Cộng sản Việt Nam. Năm ngoái đình công tại Long An, ở nhà máy Chin Lou, chủ nhân công ty đã phối hợp với công an tại địa phương để bắt và tra hỏi những người công nhân tổ chức cuộc đình công, rồi sau đó thì đuổi họ. Chúng tôi đã tố cáo vấn đề này lên báo chí của 10 nước Âu Châu. Và sau khi việc này được đưa lên, thì công ty Nike phải chịu áp lực của công ty lớn ở Âu Châu mà đầu tư vô mua cổ phần trong công ty Nike này.

Một việc thứ ba cũng liên hệ đến chính sách của nhà nước Cộng sản Việt Nam. Họ muốn tước quyền của người lao động, không cho quyền được thành lập công đoàn. Về việc đó thì chúng tôi có làm ra một tờ báo gọi là tờ Bảo Vệ Lao Động để nói lên những quyền như là quyền của người lao động đáng lẽ được tự do lập công đoàn của mình mà không ở dưới quyền điều khiển của nhà nước. Anh em ở trong nước 3 năm vừa qua đã phân phối được chừng hai mươi ngàn tờ báo đó khắp mọi tỉnh ở Việt Nam.

Công việc thứ tư mà chúng tôi đã làm trong mấy năm vừa qua, đó là những anh em ở trong nước cũng đã đến nhiều công ty, nhiều xưởng máy để liên lạc với công nhân và tìm hiểu về điều kiện làm việc. Và những người nào tổ chức đình công mà bị mất việc thì chúng tôi giúp đỡ họ.

Những vấn đề cần quan tâm

Đỗ Hiếu: Câu hỏi thứ hai xin được đặt ra với chị Ca Dao, đại diện Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam tại Pháp, từ Paris qua. Chị có thể cho biết mức độ quan tâm của đồng bào người Việt ở Châu Âu cũng như các chính phủ Liên Âu về vấn đề người lao động Việt Nam, nhất là đối với tình hình ở các quốc gia Đông Âu cũng như các lao động Việt Nam nhập cảnh bất hợp pháp sang Pháp mới đây?

Cô Ca Dao: Về sự quan tâm của cộng đồng người Việt ở Âu Châu cũng như của các chính phủ Liên Âu đối với người Việt lao động tại Mã Lai hay tại các nước Á Châu khác, tôi nghĩ là chưa được đúng mức. Lý do thứ nhất là những người Việt lao động tại các nước Á Châu quá xa với cộng đồng Liên Âu, cho nên họ không được quan tâm đúng mức.

Lý do thứ hai là lý do chủ quan, chúng tôi chưa khuấy động được đúng lúc tầm quan trọng của những người Việt lao động này.

Vấn đề thứ hai là sự quan tâm của chính phủ Liên Âu đối với những người lao động tại các nước Đông Âu. Sự quan tâm đó chưa được đúng mức, bởi vì họ nghĩ rằng những vấn đề của người lao động ở Đông Âu là những vấn đề nội tại của chính quyền bản xứ, nên họ không xen vào.

Còn một vấn đề nữa là những người lao động ở Miền Bắc nước Pháp. Thực ra, mục đích của những người này không phải là tìm việc làm ở Pháp, mà mục tiêu cuối cùng của họ là ở Anh Quốc. Họ dùng Pháp như một cái bàn đạp để qua nước Anh. Những người này đa số là người Việt Nam, họ đến từ mọi nơi trên thế giới.

Có những người dùng máy bay để qua Nga, sau đó họ dùng đường xe lửa để đi tới các nước Đông Âu, và bằng các phương tiện khác như xe lửa, xe ca hay taxi để đến nước Pháp. Từ đó, họ được những người môi giới đem đến Miền Bắc nước Pháp, ở vùng Calais.

Ở đó họ sống trong những điều kiện rất khắc nghịêt, nhất là vào Mùa Đông. Họ cũng được Cha Phạm Xuân Đào hoặc những người Pháp ở tại nơi đó giúp đỡ trong thời gian họ tạm trú, và họ dùng những phương tiện như là trốn trong những xe chở hàng từ bên Pháp qua bên Anh để mà vượt biên qua đến nước Anh. Có những trường hợp xảy ra, chẳng hạn như trong khi họ tìm cách nhảy lên những xe hàng đó thì có người đã bị rớt xuống và chết.

Những người đồng hương đã tìm cách chôn những người đó và tìm cách giúp đỡ gia đình họ, thông báo cho gia đình họ ở Việt Nam biết. Và khi qua đến nước Anh thì tình trạng của họ cũng không khá hơn gì, bởi vì đó là những thành phần nhập cư bất hợp pháp, nên họ không có công ăn việc làm, và đa số họ rơi vào vòng trồng cần sa.

Hiện tình công nhân VN

Đỗ Hiếu: Chúng tôi xin được hỏi ông Nguyễn Đình Hùng, là viên chức Công Đoàn Ngành May Mặc Úc Châu. Thưa ông, có thể hội nghị kỳ này của Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam tổ chức ở Malaysia vào những ngày cuối năm 2009 là vì tình hình người lao động xuất khẩu Việt Nam ở xứ này chăng, nhất là sau cuộc điều tra của Đài Truyền Hình Số 7 của Úc cách đây khoảng hơn một năm?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Trong đại hội đầu tiên tại Warsaw ở Ba Lan của Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động, tôi được hân hạnh đại diện Công Đoàn May Mặc và Công Đoàn Vận Tải tại Úc đến tham dự. Lần này tôi cũng được tiếp tục đến tham dự đại hội kỳ hai.

Trong hơn 3 năm qua, chúng tôi phối hợp và yểm trợ Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động vì mục đích của Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động rất là chính đáng. Nhất là những giai cấp công nhân, những công nhân lao động tại Việt Nam, cho đến ngày hôm nay, vẫn chưa có hệ thống công đoàn độc lập như các nước dân chủ tự do trên thế giới, không có sự bảo vệ về luật pháp.

Điểm thứ hai là Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam cũng quan tâm đến vấn đề xuất khẩu người lao động đến các nước trên thế giới, nhất là tại Malaysia. Tháng 8 năm ngoái, chúng tôi được chung tay với Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động làm công tác phối hợp với Đài Truyền Hình Số 7 tại Úc và đưa lại một thành quả rất là khích lệ.

Điều đó làm cho những công nhân cảm thấy rằng đã đến lúc cần phải có những công đoàn tự do, công đoàn độc lập tại Việt Nam và do chính công nhân lãnh đạo và bảo vệ cho chính họ.

Đỗ Hiếu: Câu hỏi cuối cùng xin được dành cho GS Nguyễn Ngọc Bích, là Chủ Tịch Uỷ Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ. Thưa ông, là Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam, xin ông cho biết tập thể công nhân đang trông chờ gì và hội nghị kỳ hai của Uỷ Ban Bảo Vệ Người Lao Động diễn ra ở thủ đô Kuala Lumpur này?

GS Nguyễn Ngọc Bích: Thật sự kỳ này chúng tôi sang Mã Lai vì có khá nhiều vấn đề trên một trăm nghìn người lao động xuất khẩu từ Việt Nam qua. Chúng tôi đến tại chỗ nghiên cứu để cùng lúc đánh động lương tâm thế giới tới những vấn đề của người lao động bị chèn ép, bị thiếu sự bảo vệ cần thiết trong luật pháp, cũng như về y tế và nhiều vấn đề khác nữa.

Do đó, mục đích chính mà chúng tôi tới đây, là mong sao cho thế giới chú ý nhiều hơn và lên tiếng để làm sao cho những người lao động xuất khẩu được cải thiện và có một cuộc sống đảm bảo hơn. Đó là mong ước của chúng tôi khi đến đây kỳ này.

Đỗ Hiếu: Xin cảm ơn chị Ca Dao, ông Đoàn Việt Trung, ông Nguyễn Đình Hùng và GS Nguyễn Ngọc Bích.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”

Ảnh minh họa

Tầng lớp trung lưu mới và bẫy thu nhập trung bình cao

Khảo sát bỏ túi gần đây của báo Thanh Niên về câu chuyện của anh Hoàng Việt – một nhân viên IT 40 tuổi tại TP.HCM – là một lát cắt vô cùng sống động phản ánh hành trình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam suốt nhiều thập niên qua. Từ mức kỳ vọng ban đầu chỉ là một công việc ổn định với mức lương 15 – 20 triệu đồng/tháng, sau 13 năm, anh Việt đã có thể kiếm được gần 100 triệu đồng mỗi tháng nhờ sự năng động, làm thêm nghề tay trái và đầu tư vào đất đai, chứng khoán.