Khát vọng đầu Xuân

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Hàng năm vào lúc giao mùa của Ngày Đầu Năm, đặc biệt là đầu năm Âm Lịch, người Việt Nam dù ở bất cứ nơi đâu đều có một niềm cảm xúc hướng về tương lai: Tương lai của chính mình, tương lai của gia đình, xã hội và đất nước. Trong mỗi hoàn cảnh đối diện với cuộc sống thực, mỗi người sẽ có những cảm xúc dâng lên với niềm khát vọng khác nhau. Không ai mà không muốn cuộc sống của chính mình và gia đình mình ngày một thêm tốt đẹp, đặc biệt là ổn định trong tình hình kinh tế đang bị suy thoái trầm trọng như hiện nay. Những ước vọng cho một đời sống tốt đẹp hơn đã giúp con người thêm nghị lực để phấn đấu, để biến những ước mơ thành hiện thực – không những chỉ riêng cho mình mà còn cho cả tha nhân, đồng loại. Chính vì lẽ đó mà khi nói đến ước vọng đầu năm, thường người ta nói đến những cảm xúc hướng đến tương lai của đất nước và dân tộc, vì đó mới thật sự là những khát vọng mà mỗi cá nhân muốn góp phần thực hiện. Không có những khát vọng này, con người sẽ trở nên dửng dưng, vô cảm đối với những diễn biến trên quê hương của mình.

Mùa Xuân Ất Mão năm 1975 đã là mùa Xuân kinh hoàng nhất trong lịch sử dân tộc, khi đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu cái gọi là “chiến dịch tổng tấn công mùa Xuân” để tiến chiến miền Nam Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Có thể nói là vào đầu năm 1975, người Việt Nam, đặc biệt là non 20 triệu người miền Nam đã đón Xuân trong khung cảnh nặng nề của tình hình chiến sự; nhưng vào lúc đó không một ai nghĩ rằng miền Nam Việt Nam sẽ bị xóa mất trên bản đồ thế giới vào 4 tháng sau đó. Khát vọng của hầu hết người Việt Nam vào lúc đó là chiến tranh mau chấm dứt, hòa bình được tái lập vì bốn phía (Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Việt Cộng) và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam) đã ký Hiệp định “hòa bình” vào đầu năm 1973. Khát vọng hòa bình đã không đến với non 40 triệu người Việt Nam ở cả hai miền Nam, Bắc mà thay vào đó là cơn ác mộng của địa ngục trần gian khi toàn thể đất nước bị đặt dưới ách cai trị độc tài và gian ác của đảng Cộng sản Việt Nam.

Đã 34 mùa Xuân đi qua kể từ Xuân Ất Mão năm 1975, dân số Việt Nam đã tăng gấp đôi, từ non 40 triệu của năm 1975 lên đến 87 triệu, đứng thứ 13 thế giới về dân số hiện nay, cho thấy là dân ta có một sức phát triển rất lớn. Điều đáng nói hơn nữa là tỷ lệ dân số đang ở độ tuổi từ 16 đến 45 chiếm 55% trên tổng số. Nghĩa là Việt Nam hiện có trên 50 triệu người đang ở vào lứa tuổi sung mãn nhất và là lực lượng lao động quan trọng nhất để phát triển đất nước. Đây là điều đáng mừng cho nước ta trong tình hình dân số của thế giới đang rơi vào chu kỳ lão hóa. Với một dân tộc có nhiều sức sống như vậy mà trong thực tế đời sống, dân ta vẫn loay hoay ở cuối bảng sắp hạng của những quốc gia có trình độ phát triển kém. Trong báo cáo chính trị của đại hội toàn đảng kỳ X vào tháng 4 năm 2006, đảng Cộng sản Viêt Nam đã vạch ra hai ước mơ:

• Đến năm 2010, Việt Nam phải ra khỏi hàng ngũ của những quốc gia nghèo và chậm phát triển. • Đến năm 2020, Việt Nam phải trở thành một quốc gia công nghiệp đã phát triển.

Với một quốc gia có dân số 85 triệu (2006) và sẽ lên đến 110 triệu (2025) với đà tăng trưởng kinh tế từ 8% (2006) đến 6,5% (2008) mỗi năm như thống kê của nhà nước Cộng sản Việt Nam đưa ra, thì hai ước mơ nói trên không phải là khó thực hiện; nhưng trong thực tế, Việt Nam đã có điểm xuất phát quá thấp.

Theo IMF năm 2006, GDP tính theo đầu người năm 2005 cho toàn thế giới là 7,263 USD, cho Việt Nam là 650 USD, bằng 9% mức của thế giới – nghĩa là khoảng cách của Việt Nam đối với thế giới còn quá xa. So sánh với các nước chung quanh, cùng nguồn thống kê nói trên, ta thấy là mặc dù Việt Nam có tốc độ tăng trưởng đứng thứ hai trên thế giới sau Trung Quốc, nhưng GDP danh nghĩa tính theo đầu người của Việt Nam năm 2005 bằng 33% Trung Quốc (1,940 USD); 2,1% Tân Gia Ba (29,765 USD); 3,6% Nam Hàn (17,865 USD); 4,2% Đài Loan (15,387 USD); 12% Mã Lai (5,376 USD); 21% Thái Lan (2,993 USD); 43% Nam Dương (1500 USD) và 50% Phi Luật Tân (1,278 USD).

Với tốc độ phát triển 20 năm đổi mới vừa qua, để Việt Nam ra khỏi hàng ngũ các nước nghèo và chậm phát triển – tức đạt cỡ 1500 USD đến 2000 USD cho đến năm 2010 – là điều quá viển vông. Hai dấu hiệu sau đây cho thấy: Thứ nhất là tình hình lạm phát vẫn còn ở mức hai con số (20%), khiến cho nền kinh tế Việt Nam tiếp tục suy thoái. Thứ hai là mức lương tối thiểu của công nhân Việt Nam tuy mới điều chỉnh tăng lên 650,000 đồng (40 USD) từ tháng 10 năm 2008 đối chiếu với mức lương căn bản tối thiểu của một công nhân tại những quốc gia đã ra khỏi hàng ngũ nước nghèo là 200 USD thì công nhân Việt Nam vẫn tiếp tục sống với đồng lương chết đói, đó là chưa kể tình hình thất nghiệp đang đe dọa đời sống công nhân Việt Nam hiện nay.

Với thực trạng của Việt Nam như vậy, khát vọng đưa Việt Nam ra khỏi hàng ngũ những nước nghèo và chậm phát triển vào năm 2010 quả là một điều không tưởng, và ước vọng Việt Nam trở thành một quốc gia công nghiệp đã phát triển vào năm 2020 thì quả thật là đang ngủ mơ. Bởi vì tình trạng mở cửa đầu tư một cách phi lý của Hà Nội trong hơn 20 năm qua (1987 – 2009), Việt Nam đang có dấu hiệu trở thành bãi rác công nghiệp của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, chứ không phải là quốc gia công nghiệp hóa như ước mơ của đảng Cộng sản Việt Nam. Theo quan điểm của Liên Hiệp Quốc, một quốc gia được gọi là công nghiệp hóa, phải đáp ứng rất nhiều tiêu chuẩn trong đó có hai tiêu chuẩn tối quan trọng không thế không đánh giá chung giữa các quốc gia là:

- Quyền tự do dân chủ trong xã hội và các quyền công dân khác ngày càng mở rộng. Mức độ cởi mở trong lãnh vực này kém nhất tại xã hội Việt Nam hiện nay.

- Chuyển hẳn nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, đặc biệt là phát triển mạnh khu vực chế tạo, lao động nông nghiệp chỉ còn 20% lao động cả nước.

Cả hai tiêu chuẩn nói trên hiện được coi như là những nền tảng căn bản xây dựng một xã hội dân sự để phát triến đất nước. Do đó khát vọng đầu năm Kỷ Sửu của mọi công dân Việt Nam – dù ở trong hay ngoài nước – đều chia xẻ chung một sự mong ước là các quyền tự do dân chủ và quyền công dân phải đuợc nhanh chóng tôn trọng. Ngày nào mà đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục chính sách trù dập và đàn áp những người dành cả cuộc đời lẫn sinh mạng để tranh đấu cho một mùa xuân Thái Hòa của dân tộc thì họ không bao giờ ổn định được tình hình và luôn luôn loay hoay ở lằn mức của những quốc gia chậm phát triển.

Nói tóm lại, khát vọng đầu năm – một niềm hy vọng, một đích nhắm – của mọi người trước thềm năm mới, không gì khác hơn là nỗ lực tranh đấu cho một Việt Nam tự do dân chủ sớm thành tựu. Chính khát vọng này đã thôi thúc mọi thế hệ Việt Nam cùng nhau tiếp nối nỗ lực tranh đấu trong hơn 3 thập niên vừa qua, kể từ Mùa Xuân Ất Mão năm 1975.

Trung Điền
Jan 29 2009

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB

Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn!

Ảnh minh họa: Internet

Phát triển và thu hút nhân tài từ nhỏ – trong nước nói, nước ngoài làm

Trong khi Việt Nam vẫn đang hô hào “trọng dụng nhân tài” ở mọi cấp độ, các quốc gia khác đã âm thầm thu hút nguồn lực xuất sắc của chúng ta từ lúc các em còn ngồi trên ghế lớp 8, lớp 9.

Không phải ngẫu nhiên mà Singapore triển khai hai chương trình học bổng lớn – ASEAN Scholarship và A*STAR Scholarship – nhắm trực tiếp vào học sinh Việt Nam từ độ tuổi 14–16.

Ông Tô Lâm phát biểu tại Diễn đàn Đối thoại Shangri-La, Singapore hôm thứ Sáu 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Tô Lâm: Ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo?

Đó là nghịch lý lớn nhất của đời sống chính trị Việt Nam hiện nay. Đối ngoại thì nói ngôn ngữ của đối thoại, nhưng đối nội lại vận hành bằng ngôn ngữ của kiểm soát. Đối ngoại thì kêu gọi tôn trọng khác biệt, nhưng đối nội lại rất ít chỗ cho những tiếng nói khác biệt. Đối ngoại thì nói về hòa bình, nhưng đối nội lại duy trì một không khí khiến nhiều người e ngại khi bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề hệ trọng của đất nước.

Ảnh minh họa: Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tàu

Mạc Đĩnh Chi – Nhà ngoại giao hay thi sĩ

Khi sứ đoàn Đại Việt chuẩn bị hồi hương, triều đình nhà Nguyên báo tin một công chúa được vua hết mực yêu thương vừa qua đời. Mạc Đĩnh Chi lại được triệu vào để đọc điếu văn cho công chúa. Theo lời truyền đạt, Mạc Đĩnh Chi sẽ được giao cho một bài điếu văn đã được viết sẵn. Tuy nhiên, khi mở trang giấy, trước mắt ông chỉ có duy nhất một chữ: “Nhất”!

Chỉ sau một thoáng lặng im, Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đã xuất thần đọc một bài điếu…