Khi nào một ngân hàng Việt Nam sụp đổ?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Sài Gòn đang bước vào thời tiết đẹp nhất trong năm, nhưng hàng chục ngàn nhân viên ngân hàng lại đang tiếp nhận cơ hội bước ra đường.

Kế hoạch sa thải hàng loạt của nhiều ngân hàng, trong đó có cả những ngân hàng lớn như Eximbank, Vietinbank, ACB, Techcombank… đã giáng một đòn khó hiểu đối với tầng lớp “cổ cồn trắng” trong khi chỉ còn hai tháng nữa sẽ đến cái Tết nguyên đán.

10-15% là tỷ lệ cắt giảm nhân sự của nhiều ngân hàng như thế. Một số ngân hàng khác, tuy không công bố, nhưng vẫn âm thầm kiên định chiến lược giảm thiểu các phòng ban. Gần Tết năm ngoái, một đợt sa thải cũng đã bộc phát, cho dù khi đó các ngân hàng còn đang cố giấu đi sự trả giá của họ.

Những vết khoét thấu xương

Mặt thật của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã phơi bày với những vết khoét mưng mủ đang thấm vào xương – giá trị còn lại của một thị trường đầu cơ tín dụng không giới hạn và bất chấp đạo lý trong quá khứ.

Trừ một ít ngân hàng như SHB, BIDV… có lãi thật sự nhưng còn xa mới được xem là khả quan so với thời gian trước năm 2011, ít nhất 50% số ngân hàng ở Việt Nam chỉ lãi rất ít hoặc âm lợi nhuận. Nợ và nợ xấu vẫn đeo đẳng không khoan nhượng tại những ngân hàng đang phải ôm đống tài sản thế chấp không biết làm sao rũ bỏ của các đại gia bất động sản.

Tuy thế, những báo cáo chính thức trước Quốc hội của Ngân hàng nhà nước – cơ quan vừa được nâng cấp thành Ngân hàng trung ương – vẫn không thừa nhận một mảng đen tối nào khác hơn tỷ lệ chỉ 5-6% nợ xấu.

Thống đốc Nguyễn Văn Bình mới đây còn phô diễn một lời đánh đố đối với giới nghị sĩ: nếu Ngân hàng nhà nước không hỗ trợ và sắp xếp lại nợ cho các ngân hàng thương mại, hẳn là tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng đã phải lên đến 12%.

Nhưng cũng tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII vào tháng 11/2013, ông Bình đã lần đầu tiên phải nêu ra con số 300.000 tỷ đồng đã được Ngân hàng nhà nước chuyển từ nhóm nợ xấu lên nhóm nợ “chưa xấu”, theo một văn bản “đảo nợ” của cơ quan này vào tháng 6/2013. Trước đó vào tháng 4/2012, Ngân hàng nhà nước đã thực hiện một động tác tương tự và giúp cho các ngân hàng thương mại cùng khối con nợ bất động sản tránh thoát một bàn thua trông thấy. Con số “tái cơ cấu nợ” khi đó là khoảng 250.000 tỷ đồng.

JPEG - 32.2 kb
Nợ xấu đang làm nhiều ngân hàng ở Việt Nam lao đao, theo TS Phạm Chí Dũng

Một năm rưỡi sau, bất chấp những báo cáo tô hồng về “nợ xấu đã được giải quyết một phần”, hoặc Công ty quản lý tài sản (VAMC) đã mua đến 30.000 -35.000 tỷ đồng nợ xấu của các ngân hàng, số nợ quá khó hoặc hầu như không thể thu hồi vẫn tiếp tục tạo thế xung kích, trong khi vẫn chưa có bất cứ một dấu hiệu nào cho thấy tình hình đỡ thê thiết hơn.

Cứ gần hết mỗi quý, lãi vay ngắn hạn lại là thuốc độc đối với những con nợ đến hạn phải trả, trong khi hàng tồn kho bất động sản trung cấp và cao cấp vẫn không làm cách nào khiến túi tiền người tiêu dùng xúc động. Không bán được hàng và cũng chẳng có tiền trả lãi, một doanh nghiệp bất động sản hàng đầu như Quốc Cường Gia Lai thậm chí chỉ còn chưa đầy 2 tỷ đồng trong ngân quỹ.

Cái chết của nợ xấu

Cho dù có phải cắm mặt với sự thật, tỷ lệ nợ xấu 12% mà Thống đốc Nguyễn Văn Bình buộc phải thừa nhận là có thể xảy ra vẫn chỉ bằng 1/3 con số mà Ủy ban giám sát tài chính quốc gia lần đầu tiên buộc phải công bố vào giữa năm nay. Con số đó mang tính thực chất hơn nhiều: 35-37%. Đây cũng là con số khiến người ta phải liên hệ với hình ảnh tương phản đến mười lần về số liệu nợ xấu ở Thái Lan trước và trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997: 5% và 50%.

Tại Diễn đàn kinh tế mùa xuân vào tháng 4/2013, một nhóm chuyên gia độc lập và cả vài vị quan chức nhà nước đã lần đầu tiên tung ra con số nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam lên đến 540.000 tỷ đồng.

Ít nhất 70% nợ xấu đó thuộc về hàng trăm dự án bất động sản đang hoàn toàn bất động ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng.

Cơn bội thực nhà đất ở Việt Nam lại hầu như chưa có điểm kết thúc. Cho đến nay và sau hai năm ruỡi quay quắt trong mớ bùng nhùng thắt nút, vẫn không có bất cứ số liệu tổng hợp nào về tình hình tiêu thụ của các phân khúc căn hộ cao cấp và trung cấp được công bố bởi Bộ Xây dựng.

Bất kể rất nhiều chiến dịch tuyên truyền có định hướng về “nền kinh tế đang thoát đáy” và “thị trường nhà đất đang dần phục hồi”, tâm lý người mua nhà đã thuộc về một độ trơ chưa từng thấy kể từ con sóng nhà đất đầu tiên vào năm 1995. Và dù không có bất cứ chỉ số niềm tin nào được Bộ Xây dựng thực hiện, tất cả đều phải thừa nhận là thị trường đã làm sụp đổ lòng tin.

Nói cách khác, cuộc khủng hoảng bất động sản chỉ mới bắt đầu.

Giờ đây, câu hỏi đặt ra là sau hai cú đảo nợ vào tháng 4/2012 và tháng 6/2013, liệu đến giữa năm 2014 những kẻ “ngồi mát ăn bát vàng” có chấp nhận cho các những người “mong một buổi sáng không nợ nần” của nó được gia hạn thêm thời gian khất nợ?

Nhưng giả định đó lại là điều rất khó hình dung, bởi bản thân nhiều ngân hàng Việt Nam hiện nay đang rơi vào tình trạng “ăn vào thịt của mình”. Tăng trưởng tín dụng cho vay là quá tồi tệ so với mong ước 15% từ đầu năm 2013. Cho đến nay, phần lớn ngân hàng chỉ có thể đạt 4-5% cho tiêu chí tăng trưởng này, so với “quyết tâm” của Ngân hàng nhà nước là 12%.

Thậm chí trong một văn bản mới đây, thống đốc ngân hàng đã tháo khoán cho các ngân hàng được quyền cho vay với cả những doanh nghiệp đang chìm ngập trong nợ xấu – một hành động chưa từng có tiền lệ mà cũng diễn tả tâm trạng cực kỳ bế tắc của nhóm lợi ích từng là tác nhân gây ra nợ xấu khủng khiếp ở Việt Nam.

Sụp đổ dây chuyền

Song đảo nợ không thể là một phạm trù vĩnh viễn, khi thời điểm Minsky về đáo hạn các món nợ xương máu đã biến thành vết hằn trong tận xương tủy của thế giới tư bản dã man đến khó tả ở Việt Nam.

Đơn giản là đến tháng 6/2014, nếu không thể thanh toán được các món nợ đáo hạn, không chỉ các con nợ bất động sản “chết” mà cả những ngân hàng đang ôm nợ và tài sản thế chấp cũng sẽ “băng hà” – như một câu châm ngôn trong lịch sử và văn hóa Việt Nam.

“Cứu doanh nghiệp cũng là cứu ngân hàng” – không ít doanh nghiệp kinh doanh bất động sản hoặc có liên quan đến bất động sản đã nói tuột ra với báo giới.

Hầu như chắc chắn, cuộc khủng hoảng ngân hàng đang lộ ra gót chân đen sì của nó, trước khi hiện hình tấm thân phì nộn trong cơn lên máu đầy cảm hứng tai biến cùng tứ chi tê liệt.

Từ đầu năm nay, một số biểu hiện hỗn loạn không thể chối cãi đã hiện hình. Một trong những biểu hiện hết sức bất đắc dĩ như vậy là Agribank – Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Luôn giữ vững ngôi vị quán quân về thu hút tín dụng tiền gửi cùng số lãnh đạo ngân hàng bị bắt giam vì tham nhũng, Agribank là địa chỉ mà nợ xấu bất động sản có thể tạo ra một cơn địa chấn đủ lớn khiến dắt dây sang nhiều ngân hàng mang đặc thù về “sở hữu chéo”.

Với tất cả những gì đã tích tụ, Agribank lại khá gần gũi với chân dung ngân hàng Lehman Brothers của Mỹ vào tháng 10/2007. Người ta đang tự hỏi liệu có diễn ra một kịch bản sụp đổ tương tự như thế ở Việt Nam vào thời gian này của năm sau – cuối 2014?

Thậm chí có thể sớm hơn, tức vào giữa năm 2014, khi một ngân hàng hạng trung hoặc nằm trong nhóm “G12” buộc phải tuyên bố phá sản do không thể thu hồi nợ xấu và cũng không đủ tiền để trả cho khách hàng. Và nếu sau đó có tiếp 3-4 ngân hàng không thể cầm cự, cơn động kinh nào sẽ xảy ra?

Những gì mà VAMC đang làm hiện nay chỉ có ý nghĩa như một chiến dịch “đánh bùn sang ao”. Nhà nước chỉ mua lại nợ xấu bằng trái phiếu, tức bằng giấy chứ không hề biểu trưng cho “tiền tươi thóc thật”. Nhà nước cũng không có đủ can đảm để in thêm tiền rót cho chính hệ thống ngân hàng, vì ngay lập tức lạm phát và vô số hậu quả xã hội của nó sẽ tràn ngập.

Một cái chết song trùng là hoàn toàn có thể xảy ra giữa khối con nợ và các chủ nợ, để đến lượt mình, các chủ nợ ngân hàng lại có thể kiến tạo một cuộc sụp đổ dây chuyền trong không bao lâu nữa. Khi đó, sẽ có ít nhất một phần ba số ngân hàng phải phá sản.

Khác rất nhiều với đánh giá “kinh tế Việt Nam đang có dấu hiệu phục hồi” của những tổ chức tài chính quốc tế danh giá như ngân hàng HSBC và thậm chí của cả IMF hay ADB, chưa có gì đáng gọi là “thoát đáy” dành cho nền kinh tế được mặc định bởi thuốc nhuộm “định hướng xã hội chủ nghĩa” cùng vô số nhóm lợi ích tung hoành.

Màu sắc của nền kinh tế ấy cũng vì thế đã luôn “hồng” như báo cáo của Chính phủ, nhưng lại “xám” trong con mắt Quốc hội và quá “tối” trong sâu thẳm tâm khảm của dân nghèo.

Tương lai khủng hoảng cũng vì thế lại trở nên sáng lạn hơn bao giờ hết.

Nguồn: BBC

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”