Không thể có nông nghiệp nếu thiếu “công nghệ cao”?

Ảnh: Việt Nam Thời Báo
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Luật là để tạo ra một khung pháp lý giúp ổn định xã hội, bảo vệ quyền lợi của người dân và đảm bảo công bằng, trật tự. Ấy thế mà Luật Công nghệ sửa đổi lại có thể sẽ làm cho hàng loạt mô hình ở địa phương sẽ mất cơ sở pháp lý, gián đoạn chính sách đầu tư.

Tại buổi làm việc giữa đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường và các Ban quản lý khu công nghiệp công nghệ cao về nội dung dự thảo Luật Công nghệ cao (sửa đổi) diễn ra hôm 21/10 vừa rồi, ông Nguyễn Như Cường – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường – khẳng định khoa học công nghệ là động lực then chốt cho nông nghiệp phát triển.

Cũng theo ông Cường, khái niệm về ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp đã được quy định trong Luật Công nghệ cao (Điều 16, Điều 19). Đặc biệt, Nghị định 10/2024 đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc hình thành và phát triển các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Nhờ đó, nhiều địa phương như TP.HCM, Bạc Liêu, Phú Yên… đã xây dựng được những mô hình doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đào tạo hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, góp phần thúc đẩy chuyển đổi sản xuất theo hướng hiện đại, hiệu quả.

Tuy nhiên, trong dự thảo Luật Công nghệ cao (sửa đổi) năm 2025, các khái niệm như “nông nghiệp công nghệ cao,” “doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao” hay “khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao” lại không còn được đề cập.

Nông nghiệp dù chỉ chiếm khoảng 13% GDP nhưng vẫn giữ vai trò sống còn trong đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội và xuất khẩu bền vững. Nói là vậy nhưng giá trị thật của nông nghiệp không nằm ở những con số phần trăm mà ở việc nó đảm bảo cho đất nước đứng vững trong mọi biến động. Nông nghiệp công nghệ cao, nói quy mô, không chỉ là hướng đi của tương lai mà là nền tảng để đảm bảo an ninh lương thực, thích ứng biến đổi khí hậu và nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Nông nghiệp công nghệ cao, nói một cái bình dân, phần nào giúp cho người lao động, người nông dân bớt một phần sức lực, tiết kiệm được khoản thời gian đồng thời canh tác cũng đạt được hiệu suất tốt hơn.

“Mình là dân không chuyên về nông nghiệp, không học hành qua trường lớp, mình chỉ học qua kinh nghiệm của bà con cũng như thực tế, nói trắng ra, mình chỉ đang tập tành trồng trọt. Nhờ vào những thông tin trên mạng tìm kiếm, đã giúp mình rất nhiều trong vấn đề này. Thủ công thì cũng ok đó, nhưng mình thấy nếu ứng dụng công nghệ vào trồng trọt, sẽ đạt năng suất tốt hơn, thay vì thời gian bạn làm việc đó thì giờ đây có công nghệ hỗ trợ, bạn có thể làm được việc khác,” An Nguyễn, một cư dân ở Sài Gòn chia sẻ suy nghĩ.

Đặt câu hỏi, nếu thiếu công nghệ cao thì liệu rằng sẽ có nông nghiệp? Câu trả lời chắc chắn là có, bởi trên thực tế, có không ít nhà nông vẫn canh tác theo hướng thủ công, do ông bà để lại, vẫn có thể kiếm được đồng ra đồng vô trang trải cuộc sống, lo cho con cái học xong đại học ở Việt Nam.

Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận, nếu có “bàn tay” của công nghệ hỗ trợ người nông dân thì không những năng suất có thể tăng mà người trồng trọt, chăn nuôi cũng tiết kiệm sức khoẻ hơn. Lấy ví dụ, thay vì tưới thủ công, kéo ống hoặc xách bình tưới thì với hệ thống tưới tự động, không những có thể giảm bớt phần nào khối lượng công việc mà còn có thể kiểm soát từ xa, đặt lịch tưới.

Thêm nữa, Việt Nam là một quốc gia có nền nông nghiệp phát triển và đóng vai trò trụ đỡ quan trọng cho nền kinh tế, với hơn 60% dân số sống ở khu vực nông thôn. Do đó, nếu luật sửa đổi bỏ đi cụm từ “nông nghiệp công nghệ cao” sẽ không còn cơ sở pháp lý để các địa phương duy trì, phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao đã được thủ tướng cho phép thành lập. Khi đó, chính sách ưu tiên, cơ chế đầu tư và định hướng phát triển sẽ bị gián đoạn.

Camille Nguyễn

Nguồn: Việt Nam Thời Báo

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Ông Tô Lâm phát biểu tại hội nghị tiếp xúc cử tri 10 phường TP Hà Nội sáng hôm 4/5/1026. Ảnh: Vietnamnet

Nghĩ gì về chủ trương “xây dựng phường xã hội chủ nghĩa” ở Hà Nội?

Một mô hình chính trị – xã hội muốn tồn tại lâu dài và có khả năng thuyết phục người dân thì trước hết phải trả lời được ba câu hỏi căn bản: Nó dựa trên hệ tư tưởng nào, nó đã được thực tiễn kiểm chứng ra sao, và cuối cùng, nó phục vụ cho lợi ích của ai? Chính vì vậy, khi xuất hiện khẩu hiệu “xây dựng phường xã hội chủ nghĩa” ở Hà Nội, điều mà xã hội cần không phải là những tràng vỗ tay theo quán tính hay các bài tuyên truyền một chiều, mà là một cuộc thảo luận nghiêm túc về nội hàm thực sự của khái niệm ấy.

Bệnh nhân chờ khám chữa bệnh tại Bệnh viện K, cơ sở Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Ảnh: Phụ nữ Online

Sóng gió nhà thương*

Ai từng có người thân đau ốm, nhất là mang căn bệnh ung thư, mới hiểu hết cảm giác kiệt quệ nơi “sóng gió nhà thương.” Người bệnh đã mang trong mình nỗi đau thể xác, nỗi sợ hãi cận kề giữa sự sống và cái chết, điều họ cần đôi khi không phải lời hứa hẹn cao siêu, mà chỉ là một ánh mắt quan tâm, một câu hỏi han tử tế từ bác sĩ điều trị…

Phối cảnh dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng đoạn qua khu vực nội đô. Nguồn: UBND TP Hà Nội, via VnExpress

Sân Golf và nghịch lý quyền lực trong thể chế đảng–Nhà nước

Việt Nam có khoảng 80 đến 100 sân golf với khoảng 100.000 đến 120.000 người chơi — tức là chưa đầy 0,2% dân số. Con số này tự nó đã là một tuyên ngôn chính trị: Hàng chục ngàn hecta bị chiếm dụng để phục vụ một tầng lớp cực nhỏ, trong khi hàng trăm nghìn nông dân mất đất mưu sinh. Đây không phải là thất bại chính sách ngẫu nhiên — đây là kết quả có hệ thống của cách thể chế đảng–nhà nước vận hành.

Kế hoạch dự phòng của châu Âu để thay thế NATO

Kế hoạch B vì thế đòi hỏi nhiều hơn là chỉ dự trữ thêm vũ khí — mà là xây dựng một cấu trúc để châu Âu có thể theo đó mà chiến đấu. Nền tảng của cấu trúc đó, ít nhất là đối với các nước Bắc Âu, có lẽ sẽ là một liên minh nòng cốt gồm các nước vùng Baltic, các nước Bắc Âu và Ba Lan. Các nước này đều chia sẻ những giá trị chung và một nỗi lo sợ chung trước Nga.