Nghị Quyết 36 Của Hà Nội Lôi Kéo Được Ai..??

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ngày 10 tháng 4 năm 2007 vừa qua, bộ Ngoại giao CSVN dưới sự chủ trì của người đứng đầu bộ này là ông Phạm Gia Khiêm đã tổ chức một hội nghị gọi là sơ kết ba năm thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ chính trị và chương trình hành động về công tác đối ngoại với người Việt Nam ở nước ngoài.

JPEG - 14.6 kb
Biểu tình chống Duyên Dáng Việt Nam tại Melbourne, 06-11-2005.

Cách đây ba năm, vào ngày 26 tháng 3 năm 2004, Bộ chính trị đảng CSVN đã cho ban hành cái Nghị quyết 36 NQ/TƯ để chiêu dụ người Việt tị nạn, những người mà trước đây CSVN gắn cho cái nhãn hiệu là thành phần cặn bả xã hội, chạy theo bơ thừa sữa lậu của “đế quốc Mỹ”. Mặc dù cả đảng và nhà nước CSVN đã dồn nhiều sức lực và tiền bạc để mong thực hiện thành công cái nghị quyết này, nhưng kết quả thì hoàn toàn trái ngược. Nghĩa là chỉ có một thiểu số nhẹ dạ tin theo những lời dụ dỗ, còn đa số thì không những từ khước nó mà còn vạch trần những điều gian manh, xảo trá của đảng CSVN qua cái nghị quyết đó.

JPEG - 21.8 kb
Biểu tình chống Duyên Dáng Việt Nam tại Sydney, 05-11-2005.

Việc thực hiện nghị quyết 36 thất bại đã khiến cho bộ Ngoại giao CSVN bị khiển trách nặng nề, nên trong kỳ đại hội đảng vừa qua chẳng có một nhân vật nào đứng đầu bộ này được bầu vào Bộ chính trị là một bằng chứng điển hình.

Trong Hội nghị này tất cả đều tránh sử dụng hai chữ thất bại mà dùm cụm từ ’’việc huy động nguồn lực từ kiều bào chưa hiệu quả, việc triển khai một số chính sách đối với bà con còn chậm’’. Cũng tại Hội nghị này, bộ Kế hoạch-Đầu tư của CSVN đã than trách rằng lượng tiền đầu tư vào Việt Nam của kiều bào quá ít, trong suốt 20 năm mà chưa đầy 1 tỉ USD. Trong khi đó số tiền mà họ chuyển về cho gia đình, cho thân nhân trong 5 năm (2001-2006) lên đến 20 tỉ Mỹ kim. Phạm Hữu Thắng, Cục trưởng cục Đầu tư nước ngoài cho rằng do người Việt ở nước ngoài có thế mạnh về lao động trí óc hơn là các hoạt động kinh doanh nên tiềm lực kinh tế để đầu tư vào các dự án lớn còn hạn chế. Qui mô vốn đầu tư bình quân của dự án người Việt ở nước ngoài khoảng 3,5 triệu mỹ kim, thuộc dự án qui mô nhỏ.

JPEG - 10.9 kb

Trần Tuấn Anh, Tổng lãnh sự VC tại San Francisco (Mỹ) thì nói rằng lượng đầu tư nhỏ bé đó chưa phản ánh thực lực của kiều bào. Hiện có 1,5 triệu người Việt tại Mỹ, nhưng lượng đầu tư về nước chỉ đạt 60 triệu USD, thấp hơn cả lượng đầu tư từ Nga, Thụy Sĩ.

Nguyễn Phú Bình, Thứ trưởng Ngoại giao VC, đổ lỗi cho các cơ quan chức năng khác khi phát biểu rằng: “Sau khi Nghị quyết 36 ra đời, bà con kiều bào rất kỳ vọng sự thay đổi có tính đột phá, nhanh chóng về các chính sách liên quan đến kiều bào nhưng sự chậm trễ triển khai của các cơ quan trong nước đã ít nhiều tác động tới tâm tư, tình cảm của bà con. Một số chính sách, biện pháp bà con đặc biệt quan tâm vẫn trong quá trình chuẩn bị, còn các biện pháp, chính sách đã ban hành thì thực hiện thiếu nhất quán ở các cấp địa phương và cơ sở, tình trạng phép vua thua lệ làng vẫn còn gây nhiều bức xúc cho bà con kiều bào”.

Ông Bình này còn cho biết thêm là chính sách miễn visa dự kiến sẽ được áp dụng đối với Việt kiều về nước trong 90 ngày, tuy nhiên việc thực hiện và áp dụng sẽ có sự sàng lọc đối với những người không đủ điều kiện nhập cảnh theo quy định của nhà nước CSVN.

JPEG - 21.9 kb
Biểu tình chống Phạm Gia Khiêm tại Washington, 15-03-2007.

Bộ trưởng Ngoại giao VC Phạm Gia Khiêm, người vừa mới chứng kiến tận mắt phản ứng của người Việt tại Hoa Kỳ đối với chế độ trong chuyến đi Mỹ của ông ta vào giữa tháng 3 vừa qua, thì đăng đàn phát biểu rằng: “Nguồn lực quan trọng của bà con có được huy động hay không, được huy động nhiều hay ít phụ thuộc rất nhiều vào công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”.

Khi tung ra Nghị quyết 36 này đảng và nhà nước CSVN hy vọng sẽ lôi kéo được nhiều Việt kiều, thế nhưng sau 3 năm thực hiện chẳng đạt được một kết quả nào đáng kể. Khi ra một

JPEG - 5.4 kb

nghị quyết mà gặp thất bại, thông thường thì người ta xé bỏ nó đi, nhưng những người lãnh đạo cộng sản tại Việt Nam chẳng còn quỷ kế nào khác, nên đành phải vực lại cái nghị quyết 36 đã chết yểu này bằng cách cho thêm vào một vài điều như miễn thị thực visa trong vòng 90 ngày, vấn đề mua nhà ở Việt Nam, hồi hương…để tiếp tục dụ dỗ. Chúng ta cần đánh dốc một trận để khai tử luôn cái nghị quyết 36 này đi cho rồi, cho Hà Nội khỏi lải nhải làm bẩn tai người nghe.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Seoul về đêm. Ảnh: Travel oriented, via Wiki commons

Nhà nước “mạnh” để phát triển hay “mạnh” để kiểm soát? Một ngã rẽ của Việt Nam hôm nay

Trong bối cảnh Việt Nam đang đặt ra những mục tiêu phát triển đầy tham vọng cho thập niên tới, bao gồm cả kỳ vọng tăng trưởng cao, cách tiếp cận này gợi mở một câu hỏi lớn hơn: Liệu việc xây dựng một “nhà nước mạnh” theo hướng tập trung quyền lực có thể đồng thời tạo ra động lực bứt phá kinh tế, hay sẽ đặt ra những giới hạn mới cho khả năng thích ứng và đổi mới của hệ thống?

Nên hiểu thế nào về quy chế tỵ nạn của Lê Chí Thành

Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty) đã lên tiếng về trường hợp của (Lê Chí) Thành, trong văn bản của mình, họ khẳng định quan điểm “Không ai nên bị trả về một quốc gia nơi họ đang đối mặt với nguy cơ bị bỏ tù vì lên tiếng tố cáo vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Bất kỳ hành động nào như vậy sẽ đều vi phạm nguyên tắc không trục xuất người tị nạn được quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế.”

Công nhân tại một xưởng giày ở Sài Gòn. Ảnh minh họa: Reuters

EU đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Minh Châu Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới?

Đình chiến của người Mỹ, danh dự của người Ba Tư

Ý niệm rằng Iran là một trung tâm lịch sử, một quốc gia từng là đế chế, một cộng đồng chính trị không chấp nhận bị xếp lại vào vai một kẻ phải nghe lệnh.

Khi xung đột được cảm nhận dưới lăng kính đó, mọi đòn đánh từ bên ngoài không chỉ làm thiệt hại phần cứng quân sự; chúng còn nuôi dưỡng một câu chuyện rất nguy hiểm ở bên trong: Iran không chỉ bị tấn công, Iran bị làm nhục. Và một dân tộc cảm thấy mình bị làm nhục thường không dễ bước vào đình chiến với tâm thế kỹ trị.