Nhìn lại vụ xả lũ “thủy điện” vừa qua!

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Vừa qua, thủy điện một lần nữa trở thành kẻ tội đồ trên báo chí và dư luận tại Việt Nam, khi mà cả nước bàng hoàng trước những hình ảnh về lũ lụt và sạt lở đất khiến hàng trăm người thiệt mạng tại các tỉnh phía Bắc. Hình ảnh xác người và động vật nằm la liệt khắp nơi, kinh hoàng như tận thế. Truy tìm nguyên nhân, người ta mới biết thủ phạm chính không phải là cơn lũ mà là các nhà “thủy điện” đã xả lũ, nhất là đập Hòa Bình để… cứu công trình.

Sự phẫn nộ của dư luận là điều dễ hiểu, bởi hồ Hòa Bình xả nước sẽ đồng nghĩa với nhiều căn nhà tiếp tục đứng trước nguy cơ bị cuốn trôi, nhiều cánh đồng cùng hoa màu bị ngập, và khả năng sẽ có thêm những xác người trôi nổi dưới dòng nước lũ đục ngầu kia.

Câu chuyện hồ Hòa Bình chỉ là một trong nhiều vụ “lùm xùm” liên quan tới thủy điện tại Việt Nam. Mỗi mùa mưa về, xả lũ thủy điện đã trở thành nỗi ám ảnh và sợ hãi của những người dân sinh sống vùng hạ lưu các đập lớn nhỏ trên khắp cả nước. Nỗi ám ảnh này chẳng khác gì sự lo sợ của người dân Hà Nội và Sài Gòn mỗi khi mưa lớn, ngập lụt cả thành phố.

Theo những người dân ven sông miền Trung, trước khi có thủy điện, người dân nơi đây bao đời nay vẫn sống chung với lũ. Khi đó, mưa cũng gây ngập, nhưng không có lũ quét và thiệt hại nặng. Còn bây giờ, mưa kết hợp với việc thủy điện xả nước, lũ lên nhanh từng phút với sức tàn phá kinh hoàng. Làm quanh năm suốt tháng, sau một lần xả lũ là phủi tay. Vậy nên, mỗi lần nghe tin thủy điện xả lũ là một lần bà con sợ thót tim! Chưa bao giờ số phận người dân lại mỏng manh đến thế.

Về lý thuyết, ngoài việc tạo ra nguồn năng lượng, thuỷ điện còn đóng vai trò quan trọng trong việc chống hạn vào mùa khô và cắt lũ vào mùa mưa. Tuy nhiên, hiện nay quy trình này đang bị đảo ngược hoàn toàn: xả nước cứu đập gây lũ vào mùa mưa, tích nước sản xuất điện gây hạn vào mùa khô.

Nguyên nhân của tình trạng này là do các doanh nghiệp làm thủy điện vì lợi ích kinh tế đã tối đa hóa lợi nhuận, bỏ qua việc xây dựng dung tích phòng lũ tốn kém và không có giá trị kinh tế. Vì thế, các nhà máy thủy điện này không có giá trị trong phòng lũ, cắt lũ. Nước về bao nhiêu, xả bấy nhiêu. Nó giống như những quả bom nước treo lơ lững trên đầu người dân, bất cứ lúc nào cũng có thể phát nổ, đe dọa hủy diệt tất cả những gì gặp trên đường đi.

Ở đây, không đơn thuần là cái sai của việc xả nước gây lũ ở các hồ thủy điện, mà còn sai từ chủ trương quy hoạch, phát triển thủy điện. Nhiều chuyên gia thủy lợi không ngần ngại mỉa mai về quan niệm xây dựng một nhà máy thủy điện của chính quyền không khác xây dựng một nhà máy “làm bánh kẹo”. Bằng chứng là chưa có một đất nước nào phát triển thủy điện nhanh như Việt Nam, quy hoạch hàng nghìn thủy điện chỉ trong vòng 20 năm!

JPEG - 51.1 kb
Hệ quả của việc xả lũ. Ảnh: Internet

Thế giới đã nói nhiều về bài toán đánh đổi của thủy điện và thấm thía lắm bài học về tác động thủy điện. Về tổng quan, thủy điện hại nhiều hơn lợi. Trong những thập niên gần đây, việc phá bỏ các hồ thủy điện đang là xu hướng tất yếu. Ở Mỹ từ những năm 90 của thế kỷ 20 đã bắt đầu dỡ bỏ các đập thủy điện, đến nay ước tính đã có trên 1.300 đập bị dỡ bỏ. Nhật Bản, năm 2009, đã ngừng 48 trong số 56 Dự án xây đập thủy điện, thủy lợi trên toàn quốc. Pháp cũng đã tháo dỡ 2 đập thủy điện ở thượng nguồn dòng Loire.

Đi ngược lại với xu thế, gần đây Việt Nam lại dấy lên phong trào xây dựng thủy điện. Nhưng họ không biết rằng xây dựng thủy điện là một chuyên ngành kỹ thuật phức tạp.

Một nguyên tắc khi thiết kế và vận hành các công trình đập-hồ chứa, ngoài những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, một trong những tiêu chí hàng đầu phải bảo đảm đó là an toàn. An toàn ở đây bao gồm an toàn cho chính công trình ấy và quan trọng hơn là an toàn cho vùng hạ du, là sinh mạng và của cải của người dân.

Theo tính toán, lượng điện năng của thủy điện nhỏ đóng góp vào mạng lưới quốc gia không đáng kể (khoảng 10%), trong khi đó thiệt hại đánh đổi quá lớn: rừng bị tàn phá, môi trường sinh thái bị thay đổi, đời sống người dân bị xáo trộn, gây lũ cho vùng hạ lưu.

Nhưng các nhóm lợi ích ở Việt Nam vẫn bất chấp tất cả để làm thủy điện, thậm chí, lòng tham không đáy của những tập đoàn máu lạnh này lớn tới mức nhiều dự án chỉ mới nằm ở giai đoạn quy hoạch, chúng đã tiến hành chặt phá, khai thác rừng, thu hồi đất nông nghiệp, tổ chức di dân. Hậu quả là đất nước mất đi hàng vạn hecta rừng, hàng triệu mảnh đất nông nghiệp. Nhưng mặc đất nước bị tàn phá, những kẻ giết dân ấy vẫn tiếp tục thu tiền vào túi, rồi tiếp tục tăng giá điện và rồi vẫn yên ổn.

Mấy năm qua, việc xả nước của các hồ Thủy điện đã gây biết bao thiệt hại về người và tài sản. Nhưng lần nào cũng chỉ là rút kinh nghiệm. Càng rút kinh nghiệm, số người chết càng nhiều, lũ càng mạnh.

Những kẻ gây ra thảm họa cho hàng ngàn dân ấy không ai phải đứng ra chịu trách nhiệm hay có bất cứ sự đền bù nào. Không một công lý nào được thực thi cho các nạn nhân. Trong khi đó, những cá nhân hoặc tổ chức xã hội dân sự mà giúp dân còn bị vu cáo, bị đe dọa và buộc tội. Dường như, những thế lực cầm quyền chỉ muốn các nạn nhân chết trong im lặng để dễ bề xóa tội ác.

Chính sách phát triển thuỷ điện nhỏ một cách ồ ạt của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam trong thời gian qua đang dần bộc lộ những sai lầm. Giờ đây, đất nước đang phải đối mặt với hàng ngàn quả bom nước treo lơ lững trên đầu. Lấy gì để đảm bảo những quả bom nước đó không phát nổ hủy diệt Việt Nam. Nhất là khi chúng lại đang được điều hành bởi những kẻ chỉ tôn thờ tiền bạc và lợi ích nhóm.

Trời sẽ lại mưa, hồ thuỷ điện lại đầy và lại xả lũ… Cái vòng luẩn quẩn cứ thế lặp lại, cuộc sống của người dân sống hai bên bờ sông tiếp tục thấp thỏm theo từng cơn xả lũ mà chưa biết đến bao giờ mới có thể chấm dứt!

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”