Trung Quốc cấm tàu cá ’nước ngoài’ ở Biển Đông

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

07-01-2014

HẢI NAM (NV) .- Nhà cầm quyền Bắc Kinh qua tỉnh Hải Nam đã ra quyết định cấm tàu đánh các ’nước ngoài” hoạt động trong khu vực thẩm quyền của tình này chiếm đến hai phần ba Biển Đông.

Bản đồ khu vực Biển Đông mà tỉnh Hải Nam cấm tàu đánh cá nước ngoài hoạt động, gồm cả những vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai. (Hình: Washington Free Beacon)

Cái lệnh ngang ngược vừa kể có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2014 không được loan báo rầm rộ mang tính đe dọa và thách đố như khi Bắc Kinh tuyên bố vùng phòng không trên vùng biển Hoa Đông bao gồm khu vực quần đảo Senkaku đang tranh chấp với Nhật Bản.

Lệnh cấm trên được nhà cầm quyền tỉnh đảo Hải Nam lặng lẽ đưa ra ngày 29 tháng 11 năm 2013, được truyền thông địa phương loan báo ngày 3 tháng 12 năm 2013 trong tính cách thông tin về các quyết định của nhà cầm quyền thực thi luật lệ ngư nghiệp. Theo đó, lệnh cấm tàu cá ngoại quốc bao trùm khu vực lên đến hơn 2 triệu km2 của Biển Đông mà nếu không được nhà cầm quyền Trung quốc cấp phép, sẽ bị bắt giữ, tịch thu tài sản và phạt vạ.

Tin này từng được Diễn Đàn Quốc Phòng Á Châu Thái Bình Dương (Asia Pacific Defense Forum) nêu ra trong bản tin phân tích thời sự ngày 18/12/2013 rồi tổ chức thông tin độc lập Washington Free Beacon mang ra bình luận lại ngày 7 tháng 1 năm 2014. Đến nay, vẫn không thấy phía nhà cầm quyền Việt Nam bình luận gì.

JPEG - 55 kb
Bản đồ khu vực Biển Đông mà tỉnh Hải Nam cấm tàu đánh cá nước ngoài hoạt động, gồm cả những vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai. (Hình: Washington Free Beacon)

Theo luật lệ Trung Quốc, tàu đánh cá ngoại quốc vi phạm, ngoài hải sản bị tịch thu, còn có thể bị phạt số tiền lên đến 82,600 USD. Trong một số trường hợp, tàu đánh cá và ngư dân nước ngoài còn bị tịch thu và bắt giữ.

Tuy lặng lẽ ra quyết định như cái lệnh này có vẻ rõ rệt nhất từ trước đến nay mà Trung Quốc đưa ra đối với vùng biển đánh cá đang có các tranh chấp với các nước trong khu vực phía nam, đặc biệt là Việt Nam và Philippines.

Ngày mùng 2 và mùng 3 Tháng Giêng 2014, tàu kiểm ngư Trung Quốc đã đuổi bắt 2 tàu đánh cá của ngư dân huyện đảo Lý Sơn ở gần khu vực quần đảo Hoàng Sa. Ngư dân Việt Nam bị khống chế, bị hành hung, ngư sản đánh được bị cướp, mọi thứ trang bị trên tàu bị phá hủy. Tổng cộng tài sản của hai tàu bị thiệt hại ước tính trên dưới 800 triệu đồng.

Theo ý kiến ông John Tkacik, một cựu viên chức Bộ Ngoại Giao Mỹ, nói trên Washington Free Beacon, việc cấm “nước ngoài” đánh cá trên hai phần ba Biển Đông có vẻ như chủ trương mỗi ngày mỗi lấn tới trong kế hoạch Bắc Kinh củng cố thêm cho lời tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Báo chí Trung quốc từng đưa ra nhận định Bắc Kinh không tuyên bố vùng cấm bay trên Biển Đông vì muốn tránh phản ứng bất lợi của các nước phía nam. Nhưng cái lệnh ngang ngược cấm nước ngoài đánh cá ở cả những vùng biển của người ta, nhiều phần sẽ dẫn đến những căng thẳng mới.

“Bắc Kinh nhấn thêm một bước nữa ra bên ngoài cái vạch 9 đoạn (Lưỡi Bò) mơ hồ khi truyền bá cái ’quyết định địa phương’ (Hải Nam) để xem phản ứng (của các nước) là gì.” Ông Tkacik nói.

Tuy không thấy Hà Nội nói gì về quyết định cấm đánh cá của tỉnh đảo Hải Nam trên Biển Đông nhưng người ta thấy những ngày gần đây, một số báo chính thống của chế độ ca ngợi cuộc chiến đấu bảo vệ quần đảo Hoàng Sa của hải quân VNCH Tháng Giêng 1974. Điều bất bình thường này khiến nhiều người đặt nghi vấn về dụng ý của chế độ Hà Nội.

Hồi cuối Tháng 11-2012, tỉnh Hải Nam đã ra một quyết định cho lệnh tàu tuần của họ chận giữ và khám xét tất cả các tàu nước ngoài, bất kể là loại tàu gì “xâm phạm bất hợp pháp” vào vùng biển Trung quốc. Cái lệnh có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2014, nói rõ là tàu đánh cá ’nước ngoài’.

Việt Nam vẫn tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cùng các vùng biển chung quanh là thuộc chủ quyền của mình với các bằng chứng lịch sử và pháp lý không thể tranh cãi. Bắc Kinh không những tuyên bố tương tự như vậy mà còn vẽ 9 đoạn “Lưỡi Bò” trùm đến 80% Biển Đông. Nhiều khu vực lấn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế của các nước khác. (TN)

Nguồn: Người Việt

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Tô Lâm - điển hình xảo ngôn chính trị!

Tô Lâm nói xạo

Một năm trước, trong dịp đánh dấu 50 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông Tô Lâm, khi ấy đang ở vị trí quyền lực cao nhất trong hệ thống chính trị Việt Nam, đưa ra một thông điệp nghe rất đẹp: “khép lại quá khứ, tôn trọng khác biệt, hướng tới tương lai.”

Nhưng một năm đã trôi qua. Nhìn lại, câu hỏi không còn là thông điệp ấy có hay hay không mà là nó có thật hay không?

Bản nhạc "Sài Gòn niềm nhớ không tên" sáng tác của nhà văn Nguyễn Đình Toàn (1936-2023), ca khúc - theo GS Nguyễn Văn Tuấn - được xem là hay nhứt ở hải ngoại trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975

Khúc ca cho một thành phố dĩ vãng

Khi nghe câu mở đầu “Sài Gòn ơi, ta mất người như người đã mất tên,” tôi bỗng hiểu ra rằng mình đã mất một thứ gì đó mà bấy lâu nay tôi chưa biết gọi tên. Đó cũng là cảm giác chung của hàng triệu người Việt Nam sau biến cố lịch sử.

Và đó cũng là lý do tại sao trong hàng trăm ca khúc viết về Sài Gòn và về nỗi nhớ quê hương sau 1975, “Sài Gòn niềm nhớ không tên“ được xem là ca khúc hay nhứt ở hải ngoại.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm cấp nhà nước của ông này tại Trung Quốc từ 14 - 17/4/2026. Ảnh: VTC News

Sau hơn nửa thế kỷ, còn lại bao nhiêu người vui? Bao nhiêu người buồn?

Ngày 30/4 hàng năm không chỉ là một cột mốc thời gian. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, nó là vết cắt đi vào lịch sử, để lại những đường sẹo dài trong ký ức dân tộc. Hơn năm mươi năm ấy, mỗi khi tháng Tư trở lại, người ta vẫn thấy lòng mình chùng xuống — không chỉ vì quá khứ, mà còn vì hiện tại.

Một toán người được một tổ chức đưa người vượt biên đưa lên chiếc thuyền hơi nhỏ tại Gravelines, Pháp để vượt biển nhập lậu vào Anh. Ảnh: Gareth Fuller/ PA/ the Guardian

Vì sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi?

Tại sao 51 năm sau chiến tranh, người Việt vẫn tìm mọi cách ra đi? Bất chấp nguy hiểm? Bất chấp nợ nần? Ngay cả khi ai đó nói người Việt vào Anh chỉ để kiếm tiền, chỉ vì lý do kinh tế, chỉ cần nhìn số người Việt đi sang rất nhiều quốc gia khác, như đi lao động xuất khẩu ở những xứ nổi tiếng không tôn trọng nhân quyền như Jordan hay Ả Rập Xê Út, hoặc sang sống lậu ở Thái Lan.