Úc Châu và vấn đề Biển Đông

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Vào ngày 31/3 vừa qua, Tư Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ là Đô Đốc Harry Harris đã tuyên bố rằng, việc Trung Quốc đang xây “trường thành cát” trên Biển Đông qua việc ồ ạt xây các đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa đã gây mất ổn định ở Biển Đông.

Đô đốc Harris nói: “Khi nhìn vào các hành động khiêu khích của Trung Quốc đối với các quốc gia có tranh chấp chủ quyền khác, sự thiếu minh bạch và không phù hợp với luật pháp quốc tế về vùng biển Lưỡi Bò, và sự bất cân xứng giữa sức mạnh của Trung Quốc so với các nước láng giềng nhỏ hơn, thì không có gì ngạc nhiên khi phạm vi và tốc độ xây dựng các đảo nhân tạo đang đặt ra câu hỏi nghiêm túc về ý định của Trung Quốc”.

Qua phát biểu của Đô Đốc Harris, ông Michael Wesley, Giám Đốc Trường Châu Á – Thái Bình Dương thuộc Đại Học Quốc Gia Úc nhận định rằng đây là một bước nhẩy vọt, phản ảnh quyết tâm của Hoa Kỳ trong việc muốn giải quyết căng thẳng trong khu vực Biển Đông.

Ông Wesley cũng nói là nước Úc sẽ không đứng ngoài cuộc, vì 60% mậu dịch thông thương của Úc lệ thuộc vào Biển Đông.

Nước Úc và ASEAN

Úc Châu thật sự ở rất xa đối với khu vực Đường 9 Đoạn và quần đảo Trường Sa. Không những xa về khoảng cách địa lý mà còn bị ngăn cách khỏi khu vực này bởi những quần đảo của các nước Nam Dương, Mã Lai, Brunei và Phi Luật Tân.

Thêm vào đó, nước Úc căn bản lại là một quốc gia có nguồn gốc từ Anh Quốc, Tây Phương da trắng, khác hẳn với những quốc gia trong khu vực đều là Á Châu da vàng. Tình cảnh giống như một người da trắng lạc vào giữa khu chợ da màu.

Thế nhưng, điều có thể nhiều người không trông đợi đã xảy ra. Đó là việc nước Úc đã liên minh với Mỹ để phản đối Trung Quốc về vụ giàn khoan HD 981 và vụ lấp bãi đá chìm Gạc Ma. Câu hỏi được đặt ra là, Úc sẽ được lợi gì khi liên minh với Hoa Kỳ và nhất là quan hệ với CSVN và Phi Luật Tân trong việc đối phó Trung Quốc ở biển Đông, và vấn đề Biển Đông quan trọng tới mức độ nào trên căn bản lợi ích quốc gia của nước Úc?

Đã từ lâu, nước Úc muốn trở thành một thành viên của Châu Á, đặc biệt là đối với khu vực Đông Nam Á. Mục tiêu của chính sách đối ngoại của Úc trong nhiều năm qua là hướng về khối ASEAN và vì thế, Úc chia xẻ quan điểm và trách nhiệm chung của khối ASEAN về vấn đề biển Đông.

Ông Simon Merrifield, đại sứ Úc tại ASEAN đã trình bày quan điểm của nước về ASEAN như sau:

“ASEAN giữ vai trò chủ chốt trong việc giúp tất cả chúng ta kiểm soát sự năng động chiến lược đang thay đổi trong khu vực, bao gồm cả các mối quan hệ giữa các nước lớn. ASEAN và các diễn đàn do ASEAN dẫn dắt có thể tận dụng vai trò trung tâm này để giải quyết một cách chủ động một số vấn đề nhạy cảm hơn của khu vực, trong đó tất nhiên bao gồm cả những căng thẳng đang diễn ra tại biển Đông.”

Với tầm nhìn đó, nước Úc đã trở thành đối tác đối thoại đầu tiên của ASEAN từ năm 1974 kéo dài đến hôm nay. Hiện nay, Úc Châu đã cung cấp cho khối ASEAN một khoản viện trợ phát triển thường niên trị giá 1 tỷ Mỹ Kim cho các nước thành viên kém phát triển. Khối ASEAN hiện là đối tác chiến lược đồng thời là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Úc, chỉ sau Trung Quốc với tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Úc và ASEAN lên đến 99 tỷ Mỹ Kim.

Úc Châu và Biển Đông

Vừa là đối tác chiến lược của khối ASEAN, vừa là đồng minh cật ruột của Hoa Kỳ trong nhiều thập niên dài, đặc biệt trên phương diện quân sự. Hoa Kỳ và nước Úc đã là đồng minh của nhau trong thế chiến thứ hai và sau đó trong cuộc chiến tranh Việt Nam hồi thập niên 60 trong thế kỷ trước.

Tuy nhiên sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào tháng 4/1975, dưới thời cựu thủ tướng Úc Malcolm Fraser (1975-1983), nước Úc muốn chấm dứt sự phụ thuộc của Úc với Mỹ trong vấn đề an ninh và giành lại khả năng tự chủ. Ông Fraser đã hướng về Bắc Kinh như một khách hàng hơn là một kẻ thù từ sau khi Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền lực ở Hoa Lục. Nước Úc bắt đầu giàu lên nhờ xuất khẩu nguyên liệu thô sang Trung Quốc.

Từ cuối năm 2007, Trung Quốc thay thế Nhật Bản để trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của nước Úc với số lượng hàng hoá trao đổi lên đến hơn 100 tỷ Mỹ Kim hàng năm. Đến năm 2009 Trung Quốc đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Úc.

Trong sách trắng “Úc Châu trong Thế kỷ châu Á” công bố năm 2012, nước Úc đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc tạo dựng mối “quan hệ toàn diện” với Trung Quốc, bao gồm cả kinh tế, tài chánh, du lịch, văn hóa, xã hội và trao đổi du học sinh. Hiện có non 200 ngàn sinh viên Trung Quốc du học tại Úc và hàng năm Úc đón tiếp hơn nửa triệu lượt du khách đến từ Trung Quốc.

Trong mối quan hệ với Trung Quốc nói trên, kể từ thập niên 80 cho đến gần đây, nước Úc luôn gần như bị buộc phải giữ thái độ trung lập trong các cuộc xung đột giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc ở Thái Bình Dương.

Nhưng từ khi khủng hoảng biển Đông bùng nổ và nhất là khi Hoa Kỳ tuyên bố chuyển trục về khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, chính quyền Úc đã lấy thái độ rõ rệt: Trung Quốc chỉ đơn thuần là đối tác thương mại. Có nghiã là dù quan trọng nhưng ưu tiên cũng chỉ là thứ yếu so với ưu tiên đồng minh chiến lược quân sự với Hoa Kỳ.

Tại Hội Nghị Shangri-La 2012, Bộ Trưởng Quốc Phòng Úc Stephen Smith đã tuyên bố rằng: “Mối quan hệ đồng minh Mỹ – Úc là không thể phá vỡ, là nhân tố lâu dài trong những chiến lược an ninh của quốc gia”.

Phát biểu của ông Stephen Smith được coi như sự tái khẳng định đâu là ưu tiên của nước Úc. Nhận định cho rằng nước Úc đứng giữa “ngã ba đường”, với ý nghiã là sự chọn lựa giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là khó khăn đối với Úc là không chính xác, vì mặc dù luôn phải cố gắng giữ mối giao thương với Trung Quốc, thực sự Úc không thể có lựa nào khác hơn, và bằng mọi giá, phải là đồng minh của Mỹ.

Theo ông Carl Thayer, nhà bình luận chính trị quốc tế cho rằng chính phủ Úc đã âm thầm đi theo chính sách của Hoa Kỳ, nhưng kín đáo hơn và rất hiếm khi lên tiếng về vấn đề này ở nơi công cộng. Úc ủng hộ hoàn toàn chính sách được tuyên bố của ASEAN về Biển Đông. Đó là kêu gọi tất cả các bên trong cuộc tranh chấp ở Biển Đông tự kiềm chế và tránh các hành động có thể làm tăng căng thẳng trong khu vực, cũng như đẩy mạnh việc đúc kết các cuộc thảo luận về một Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông.

Kết luận

Ngày 11/05/2015 vừa qua, trả lời cuộc phỏng vấn của hãng tin Bloomberg về lời phát biểu của phát ngôn nhân bộ ngoại giao Trung Quốc rằng Bắc Kinh có quyền đơn phương thiết lập một vùng ADIZ, trong trường hợp mà Trung Quốc thấy cần thiết, Ngoại trưởng Úc bà Julie Bishop đã khẳng định rằng Bắc Kinh không nên thiết lập một vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) tại biển Đông vì điều này sẽ chỉ làm gia tăng các căng thẳng với những hậu quả khó lường.

Tuyên bố của Ngoại trưởng Julie Bishop một lần nữa cho thấy là nước Úc tuy ở rất xa biển Đông nhưng quyền lợi thì lại rất gần vì 60% mậu dịch thông thương của Úc đi qua vùng biển này.

Với ý hướng hội nhập vào ASEAN trong bối cảnh nhiều quốc gia trong vùng đang có xu hướng tách rời khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc; song song với việc đồng minh cốt lõi là Hoa Kỳ đang xoay trục về Châu Á, nước Úc càng có thêm lý do xác đáng để đi theo hướng chung này./.

Đỗ Đăng Liêu

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Công nhân tại một xưởng giày ở Sài Gòn. Ảnh minh họa: Reuters

EU đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Minh Châu Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới?

Đình chiến của người Mỹ, danh dự của người Ba Tư

Ý niệm rằng Iran là một trung tâm lịch sử, một quốc gia từng là đế chế, một cộng đồng chính trị không chấp nhận bị xếp lại vào vai một kẻ phải nghe lệnh.

Khi xung đột được cảm nhận dưới lăng kính đó, mọi đòn đánh từ bên ngoài không chỉ làm thiệt hại phần cứng quân sự; chúng còn nuôi dưỡng một câu chuyện rất nguy hiểm ở bên trong: Iran không chỉ bị tấn công, Iran bị làm nhục. Và một dân tộc cảm thấy mình bị làm nhục thường không dễ bước vào đình chiến với tâm thế kỹ trị.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) trực thuộc chính phủ chuyển sang đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương đảng. Ảnh: Công nghệ Số & Truyền thông

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Phép thử bước ngoặt cho khoa học Việt Nam

Đây không còn là vấn đề điều chỉnh cơ cấu, mà là một bước ngoặt xác định lại vị thế của VAST (Viện Hàn lâm KH&CN): Tiếp tục là một trụ cột không thể thay thế của hệ thống khoa học quốc gia, hay dần bị phân rã và hòa vào các cấu trúc khác. Nói cách khác, phía trước không chỉ là thách thức cải tổ, mà là phép thử trực tiếp đối với lý do tồn tại của Viện Hàn lâm KH&CN.

Ảnh minh họa: Putin (trái) và Tô Lâm

Từ Moscow đến Hà Nội: Khi quyền lực chọn con đường cô lập

Những gì đang diễn ra tại Việt Nam, nhất là từ sau đại hội 14 cho thấy một xu hướng đáng lo ngại: Quyền lực không còn muốn bị giới hạn.

Quyết định đưa các cơ quan truyền thông (VOV, VTV, TTXVN) và hai cơ quan học thuật nằm dưới sự quản lý và chỉ huy của bộ máy đảng không phải là cải tổ. Đó là thâu tóm.