Giám Sát Viên PBS Lên Tiếng Về Phim “Terror In Little Saigon”

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Giám Sát Viên Michael Getler của Hệ thống Truyền Thông Public Broadcasting Service (PBS), người nhận được thư khiếu nại của Phát Ngôn Nhân đảng Việt Tân về tính cách thiên lệch và thiếu đạo đức nghề nghiệp chuyên môn của 2 người thực hiện Richard Rowley và A.C. Thompson, đã trả lời trong một bài viết đăng trên trang blog của PBS ngày 19 tháng 11, 2015.

Sau khi tóm lược nội dung của cuốn phim “Terror In Little Saigon” và sự gây tranh luận sôi nổi trong cộng đồng người Việt về giá trị của nỗ lực này, cùng với dữ kiện trên 500 người thỉnh nguyện tái mở cuộc điều tra về những cái chết, và một thỉnh nguyện khác với trên 1,900 người (cho đến khi đó) kêu gọi PBS điều tra sự chính trực và chuyên môn của phim trên, bức thư đã nêu lại những phần chính yếu của thư ngỏ của đảng Việt Tân khiếu nại và thư ngỏ trả lời của Frontline và ProPublica.

Với tư cách là Giám Sát Viên của PBS, độc lập với tổ chức PBS, nhằm giải quyết những khiếu nại về tổ chức này, ông Michael Getler đã cho biết sự nhận định tế nhị nhưng thẳng thắn của ông có thể tóm tắt trong một số điểm sau:

1- Ông có ấn tượng những điều hỗ trợ tổng quát cho cuốn phim thì chính xác. Ấn tượng này đến một phần từ uy tín của chương trình Frontline và ProPublica, nhưng phần lớn đến từ sự phỏng vấn minh danh trong chương trình của nhân vật FBI Tang-Wilcox.

Ông viết “Nếu không có bà Tang-Wilcox thì tôi nghĩ rằng trọng tâm của chương trình này về việc sát hại các ký giả – và tất cả các phỏng vấn trình chiếu với những người được cho là bạn, là nghi can, là cựu thành viên Mặt Trận, là những điềm chỉ viên, cộng với những viện dẫn của Thompson từ một cựu lãnh đạo Mặt Trận khác mà tên thì không thể tiết tiết lộ nhưng lại “chắc chắn” rằng K-9 đã giết ký giả ở San Francisco và Houston – sẽ không thể đứng vững trước sự duyệt xét”.

    But much more important—in fact, crucially important in terms of credibility—is the on-camera interview and statements of retired FBI Special Agent Katherine Tang-Wilcox. If it were not for Tang-Wilcox, I think this broadcast’s focus on the murders of the journalists—and all the on-air interviews with alleged Vietnamese friends, suspects, former Front members and informers, plus the reference by Thompson to another former top front leader whose name could not be revealed but who is “certain” that K9 killed the journalists in San Francisco and Houston—would not have stood up very well against the scrutiny it is getting.

Ông cho biết không thể tiến hành điều tra về một công trình kéo dài 2 năm, và ông chỉ nêu lên cảm giác của mình dựa trên suy nghĩ và sự khả tín của 1 nhân viên điều tra FBI chính trong vụ. Ông không cho biết tại sao quyết định chính thức của bộ phận FBI sau nỗ lực điều tra kéo dài 15 năm lại không có trọng lượng hơn cảm quan của 1 nhân viên FBI. Tuy nhiên bỏ ngoài cảm quan cá nhân, Giám Sát Viên Michael Getler đã kết luận suy nghĩ của ông trực tiếp vào kết cấu của cuốn phim.

2- Giám Sát Viên Michael Getler có quan điểm rằng phim này thiếu sự thuyết phục và chặt chẽ với những điều viện dẫn. Ông viết “Khuyết điểm mà tôi cảm thấy làm yếu sự trình bày của chương trình này như sau. Cuộc phỏng vấn với một “người bạn cũ” của chủ báo bị giết có tính cách cáo buộc thì lại ẩn danh. Những người cựu lãnh đạo khác của Mặt Trận thì nói về những vụ giết người này với những điều như: “Tôi không nghe thấy nhưng có người nói với tôi… Tôi không muốn chỉ vào ai… Đó là những điều tôi nghe thấy. “Những người khác thì phủ nhận có liên can. Một cựu phóng viên của báo Los Angeles Times thì nói “Có gì đó gần như đồng thuận…có người nghĩ rằng”. Tất cả có vẻ tự nhiên cho một cuộc điều tra loại này, nhưng nó đã không đem lại thêm sự khả tín cho một câu chuyện ngay từ đầu đã không có phân giải”.

    The flaws that I felt weakened the program’s presentation were as follows. A damning interview with an “old friend” of the slain publisher is anonymous. Other former Front leaders say about the killings such things as: “I don’t hear but somebody told me…I don’t want to point the finger…that’s what I heard.” Others denied involvement. A former Los Angeles Times reporter says “there was something close to a consensus…there were people who thought.” All that may seem natural for an investigation such as this, but it doesn’t add much credibility to a story that was inconclusive at the outset.

3- Phần kết của bài viết, Giám Sát Viên Michael Getler của PBS cho biết cảm tưởng sâu đậm hơi thất vọng của ông về 2 chương trình mới đây nhất của Frontline. “Một kết quả là thiếu vắng tiếng nói và vai trò quen thuộc cố hữu của người xướng viên Frontline. Là khán giả lâu năm của Frontline, tôi nghĩ rằng, một người dẫn chuyện khác ký giả Thompson sẽ giúp rõ rệt cho chương trình Việt Nam, đặt mọi chuyện vào đúng bối cảnh của nó, với khoảng cách giữa người phóng viên và chủ đề, nêu rõ được những gì thực sự mới mẻ và có thể kiểm chứng khi (lọc lựa) phát hình và trong những chỗ khác nữa, rằng cuộc chinh phạt và sự chĩa mũi dùi cá nhân sẽ không quá nổi cộm, và một cách nào đó, đã tạo ra lệch lạc”.

    Both were done in collaboration with another organization. Vietnam was done with ProPublica. The immigration program, a two-hour affair, was done in collaboration with another PBS series, Independent Lens.

    One result is that the traditional and iconic voice and role of the Frontline narrator was missing. I thought, as a longtime viewer of Frontline, that a narrator other than the reporter, Thompson, would have helped the Vietnam program substantially, putting things in more context and with more distance between reporter and theme so that it would be more clear what was actually new and verifiable on the air and elsewhere, and that the crusade and personal focus aspects would not be so prominent and, in a sense, distracting.

Ngoài ra quý vị có thể đọc thêm phần dịch tiếng Việt bài viết của Giám Sát Viên Michael Getler tại đây.

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Eo biển Hormuz (trái) và eo biển Đài Loan. Ảnh: The Seattle Times, The Diplomat

Từ Hormuz nghĩ về eo biển Đài Loan

Chiến dịch quân sự của liên quân Mỹ-Israel đã vấp phải một trở ngại quan trọng: Eo biển Hormuz! Ngay trước khi ném những quả bom đầu tiên xuống Iran, các chỉ huy quân sự Mỹ đã lo ngại việc Tehran phong tỏa eo biển Hormuz trong một đòn phòng vệ bất đối xứng. Một chiến thuật như vậy đang được Trung Quốc cân nhắc nếu Mỹ can dự vào cuộc xâm lược Đài Loan mà Chủ Tịch Tập Cận Bình có thể khơi mào trước năm 2027.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Ảnh: Cổng Thông tin Điện tử Quốc hội

Tổng bí thư kiêm chủ tịch nước: Mục tiêu hay phương tiện?

Giấc mơ phát triển không chỉ là giấc mơ của một nhà lãnh đạo. Đó phải là giấc mơ của hàng triệu người Việt – những người đang vật lộn với chi phí sinh hoạt, với sức ép việc làm, với tương lai con cái mình trong một thế giới cạnh tranh khốc liệt.

Vấn đề không phải là người “trên đỉnh cao chói lọi” muốn gì? Vấn đề là cấu trúc quyền lực hiện nay cho phép – hay giới hạn – tổng bí thư, chủ tịch nước làm những gì?

Tổng Bí thư ĐCSVN kiêm Chủ tịch nước CHXHCNVN Tô Lâm. Ảnh: Luong Thai Linh/ Pool Photo via AP

Cơ hội điều hành và giới hạn thể chế đối với nhất thể hóa quyền lực ở Việt Nam: Hai mặt của một lựa chọn chính trị

Ý nghĩa của việc tập trung quyền lực ở Việt Nam cần được đặt trong một khung nhìn rộng hơn. Nếu nó chỉ dừng lại ở việc tăng tốc điều hành, thì đó mới chỉ là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại nằm ở việc liệu sự tập trung này có đi kèm với việc củng cố pháp quyền, mở rộng minh bạch và xây dựng các cơ chế kiểm soát quyền lực hay không.

Ông Tô Lâm tuyên thệ nhậm chức chủ tịch nước CHXHCNVN 2026-2031 hôm 7/4/2026. Ảnh: Znews

Tô Lâm đặt cược lớn vào chiến dịch xây dựng trị giá 200 tỷ USD

Sân vận động lớn nhất thế giới, trung tâm triển lãm lớn nhất Đông Nam Á và hàng trăm dự án đường bộ, hàng không và năng lượng lớn — Việt Nam đang xây dựng nhanh hơn bao giờ hết trong “kỷ nguyên vươn mình của đất nước” mà nước này tự tuyên bố.

Chỉ riêng năm ngoái (2025), Việt Nam đã khởi công hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trong một làn sóng đáng kinh ngạc với tổng chi phí khoảng 200 tỷ USD.