Biểu tình: Một quyền chính trị quan trọng bị cấm kỵ

Biểu tình chống Dự luật Đặc khu tại Sài Gòn hôm 10/6/2018. Ảnh: VNTB
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nhật Ngôn

Bao giờ người dân Việt Nam mới thực sự có được quyền biểu tình rõ ràng như năm bản Hiến pháp đã quy định? Câu trả lời vẫn hoàn toàn bỏ ngỏ.

Ở rất nhiều quốc gia tiến bộ trên thế giới, biểu tình là một quyền chính trị hiển nhiên của công dân. Tuy nhiên, tại Việt Nam, quyền biểu tình dù được quy định ở Hiến Pháp  nhưng thực tế lại hoàn toàn khác biệt.

Khi xã hội Việt Nam bắt đầu manh nha ý thức dân chủ từ thời Pháp thuộc trước năm 1945, biểu tình đã bắt đầu diễn ra để phản kháng chính phủ cầm quyền. Cuộc biểu tình chống sưu cao thuế nặng nổi bật nhất trong lịch sử là Phong trào chống sưu cao thuế nặng ở Trung Kỳ năm 1908. Hàng vạn nông dân từ các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, và Huế đã vây tòa Khâm sứ và các cơ quan chính quyền đòi giảm sưu thuế.

Dưới sự đô hộ của thực dân Pháp, xã hội dần hình thành các điều kiện để biểu tình nhờ sự du nhập của các tư tưởng tự do phương Tây và sự ra đời của các đảng phái có tổ chức. Điển hình là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, cuộc biểu tình Bến Thủy, Vinh – khởi đầu cho phong trào Xô viết nhân ngày  kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5/1930. Và đỉnh điểm là cuộc biểu tình ngày 19/8/1945 do Việt Minh tổ chức dẫn tới Cách mạng tháng Tám cướp chính quyền.

Sau khi Việt Minh tuyên bố độc lập ngày 2/9/1945, quyền biểu tình đã ngay lập tức được hiến định trong Hiến pháp 1946 tại Điều 10. Thậm chí, Sắc lệnh số 31 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 13/9/1945 đã chính thức công nhận quyền này, chỉ yêu cầu khai trình trước 24 giờ. Xuyên suốt lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền hội họp và biểu tình luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp năm 1959 tại Điều 25, Hiến pháp 1980 tại Điều 67, và Hiến pháp 1992 tại Điều 69. Tuy nhiên,  thực tế lịch sử lại không như vậy.

Ở miền Bắc, các cuộc biểu tình không còn là biểu tình phe phái, đối lập chính trị như trước năm 1945. Tất cả đều do Nhà nước và các đoàn thể tổ chức, phục vụ cho mục tiêu xây dựng CNXH và chi viện cho chiến trường miền Nam. Các hoạt động biểu tình diễn ra theo các biến động chính trị có tổ chức nhằm ủng hộ chính sách của chính quyền hoặc phản đối Mỹ tham chiến và mở rộng chiến tranh đánh phá miền Bắc. Sau đó là các cuộc meeting ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, phản đối chính sách can thiệp và sự hiện diện của quân đội Mỹ tại miền Nam Việt Nam.

Ở Miền Nam hoạt động biểu tình diễn ra rầm rộ, không do chính phủ hay đảng phái chi phối. Báo chí tư nhân, các hội đoàn độc lập, tôn giáo và các tổng hội sinh viên phát triển, tạo điều kiện cho người dân có không gian để thể hiện tiếng nói. Tuy nhiên các cuộc biểu tình cũng có bị chính phủ đàn áp như phong trào Phật giáo dưới thời Ngô Đình Diệm hay phong trào sinh viên học sinh những năm 70.

Cho đến nay, Điều 25 của Hiến pháp 2013 vẫn khẳng định công dân có quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và biểu tình. Thế nhưng, quyền biểu tình và hội họp vẫn bị treo vô thời hạn. Thứ nhất, Hiến pháp quy định việc thực hiện các quyền này “do pháp luật quy định,” nhưng đến nay Việt Nam vẫn chưa hề ban hành Luật Biểu tình để hướng dẫn chi tiết. Thứ hai, quyền biểu tình trên thực tế thường bị chính quyền xử lý bằng các công cụ hành chính như Nghị định 38/2005/NĐ-CP về trật tự công cộng hoặc thậm chí là truy tố hình sự về tội “gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 Bộ luật Hình sự 2015.

Cứ mập mờ như vậy thì bao giờ người dân Việt Nam mới thực sự có được quyền biểu tình rõ ràng như 5 bản Hiến pháp đã quy định? Câu trả lời vẫn hoàn toàn bỏ ngỏ. Điều đó cho thấy các quyền chính trị của người dân thực chất chỉ là một “cái bánh vẽ” được dựng lên để trang trí. Tương tự như những lời tuyên ngôn hào hùng về quyền con người vào ngày 2/9/1945, chúng chỉ là mồi nhử phục vụ cho mưu đồ chính trị, lợi dụng tinh thần độc lập và lòng yêu nước của nhân dân để củng cố quyền lực cho một nhóm người.

Nguồn: Việt Nam Thời Báo

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”