50 năm sau, cựu lãnh đạo Cộng sản Hungary bị truy tố vì tội ác với nhân dân

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Cựu lãnh đạo Cộng sản Hungary ra tòa vì tội đàn áp dân chúng

25 năm sau ngày chế độ cộng sản sụp đổ, phiên tòa xét xử một cựu lãnh đạo đảng Cộng sản Hungary mở ra vào ngày 18/03/2014. Bela Biszku trả lời về vai trò của ông, với tư cách là bộ trưởng nội vụ, trong cuộc đàn áp phong trào nổi dậy chống Liên Xô can thiệp vào mùa thu năm 1956.

Bela Biszku bị tố cáo “tham gia tích cực” vào hai vụ nổ súng sát hại gần 50 người biểu tình vào tháng 12 năm 1956 và bị truy tố vào tháng 10 năm 2013 với tội danh “phạm tội ác chiến tranh”.

JPEG - 26 kb
Cựu lãnh đạo Hungary Bela Biszku. REUTERS/Laszlo Balogh

Bela Biszku là cựu lãnh đạo đảng cộng sản Hungary đầu tiên bị bắt và bị truy tố vì phạm tội ác chiến tranh từ khi quốc gia Đông Âu này được tự do vào 1990.

Nhân vật mà công tố viên mô tả là “ thành viên ban lãnh đạo chủ chốt của đảng” có nguy cơ lãnh án tù chung thân.

Bela Biszku bị buộc tội “chủ mưu, chủ động tham gia gây tội ác chiến tranh. Với chức vụ bộ trưởng nội vụ, ông đã bao che cho các hành động trả thù những người tham gia khởi nghĩa chống Liên Xô.

Phong trào khởi nghĩa bắt đầu vào ngày 23/06/1956 tại Budapest, bị đàn áp trong biển máu ngày 04/11 khi Liên Xô đưa chiến xa sang Hungary. Chiến dịch đàn áp đã làm 2000 người chết. Chế độ thân Nga đã mở chiến dịch trả thù tiếp theo đó, hành quyết hơn 300 người và bắt giam 20.000 người.

Hơn 200.000 dân Hungary phải chạy sang nước ngoài lánh nạn.

Nguồn: RFI

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Khi Nhà nước muốn biết cả những điều bạn chưa kịp suy nghĩ

Điều cần gieo hôm nay không phải là sự tuyệt vọng mà là sự tỉnh thức. Xã hội dân sự cần hiểu rõ những thách thức của thời đại mới để tự bảo vệ mình tốt hơn.

Nhưng đồng thời, những người cầm quyền cũng cần nhận thức rằng một quốc gia muốn trường tồn không thể chỉ dựa vào camera, dữ liệu và thuật toán. Sự ổn định lâu dài không thể được xây dựng bằng nỗi sợ hãi mà phải được xây dựng bằng lòng tin.

San bằng khu dân cư ven sông Hồng. Ảnh: Getty Images

Từ Thủ Thiêm đến sông Hồng, Hà Nội: Nước mắt đắng cay

Sự đối lập rõ ràng ở hai miền đất nước là hoàn cảnh và điều kiện sống của người dân bán đảo Thủ Thiêm và thủ đô Hà Nội. Người Thủ Thiêm phần lớn là người dân nghèo sống trong các nhà tạm, còn ở Hà Nội là phần lớn là người có của ăn của để sống trong những căn nhà lầu kiên cố 5-7 tầng.

Nhưng dù giàu hay nghèo, họ đều là nạn nhân của chính sách đền bù bất công và quy hoạch đô thị thiếu tầm nhìn.
==
Nhắc đến thu hồi đất, người ta không thể không nghĩ đến bán đảo Thủ Thiêm tại TP.HCM – nơi được ví như “vết thương chưa bao giờ lành” ở miền Nam. Giờ đây, những tiếng kêu cứu, những băng rôn của người dân mất đất tại các dự án vành đai, khu đô thị mới ở Hà Nội cũng đớn đau không kém. Nỗi đau của người dân Hà Nội bị lấy đất có giống như người dân Thủ Thiêm?

Tổng thống Ukraine Zelensky. Ảnh: Sergey Dolzhenko/ EPA

Thư ngỏ của Zelensky gửi Putin

Ngày 4 tháng 6 năm 2026. Zelensky công bố một bức thư ngỏ gửi thẳng cho Putin. Không qua trung gian, không ngoại giao vòng vo. Đây là lần đầu tiên kể từ khi chiến tranh toàn diện nổ ra năm 2022 mà người ta thấy một văn bản trực diện đến mức như vậy.

Thời điểm cũng khá đặc biệt. Thế giới đang chăm chú vào cuộc đối đầu Mỹ-Iran, Ukraine như bị đẩy ra rìa. Zelensky hiểu điều đó, và đây rõ ràng là một nước cờ có tính toán.

Thượng nghị sĩ Philippines Risa Hontiveros giương cao cờ Philippines trên đảo Thị Tứ ở Biển Đông vào ngày 21 tháng 2 năm 2026. Ảnh: Jam Sta Rosa/ AFP

Vì sao Phán quyết Trọng tài Biển Đông năm 2016 không hề thất bại?

Một thập kỷ sau Phán quyết Trọng tài Biển Đông, câu hỏi quan trọng nhất không còn là liệu Trung Quốc có tuân thủ phán quyết hay không, bởi rõ ràng là họ không tuân thủ. Câu hỏi quan trọng hiện nay là liệu phán quyết có làm thay đổi cục diện chiến lược và pháp lý ở Biển Đông hay không, và câu trả lời đang ngày càng nghiêng về hướng “Có.”