70 năm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền: Giành lại Nhân Quyền – Đòi lại Dân Chủ cho Việt Nam

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ra đời ba năm sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt trong cảnh đổ vỡ hoang tàn của cuộc chiến kéo dài 6 năm (1939-1945) khiến cho 60 triệu người tử vong và hàng triệu người khác bị thương – trải rộng từ Âu Châu đến Phi Châu, Nam Mỹ và Châu Á Thái Bình Dương.

Vì ra đời trong bối cảnh tương tàn của cuộc chiến mang tính hủy diệt loài người ở khắp các lục địa, nên Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền – tuy đề cao quyền tối thượng của con người, nhưng lúc đó nội dung của Tuyên Ngôn xoay quanh một số quyền căn bản như Quyền được bình đẳng; Quyền không bị kỳ thị; Quyền không bị làm nô lệ; Quyền không bị tra tấn hay bị hành hạ.

Nhìn lại 70 năm qua, phải nói là nhân loại đã giải quyết phần nào những quyền căn bản nói trên qua nhiều công ước quốc tế: Công ước về quyền trẻ em; Công ước xóa bỏ mọi hình thức kỳ thị chủng tộc; Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về chống tra tấn, v.v…

Ngoài ra, Liên Hiệp Quốc cũng có những công ước quốc tế khác như Công ước về quyền dân sự và chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa để hợp cùng với bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, tạo thành Bộ luật về Nhân Quyền, được ra đời từ cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, nhằm kêu gọi các quốc gia thành viên phải cải thiện tình trạng nhân quyền, đặc biệt là dưới các thể chế độc tài Cộng sản. Hiện nay, nhân loại quan tâm vào 5 quyền căn bản trước thềm thế kỷ 21.

  • Quyền được sống, không bị tra tấn và bị bắt làm nô lệ.
  • Quyền tự do và an toàn nhân thân, không bị bắt và bỏ tù vì các lý do không chính đáng.
  • Quyền bình đẳng trước pháp luật, và coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội theo luật.
  • Quyền tự do cá nhân bao gồm tự do di chuyển, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tự do phát biểu, tự do lập hội và hội họp…
  • Quyền tham gia chính trị bao gồm quyền tự do thành lập, theo hoặc không theo một đảng chính trị và các quyền ứng cử, bầu cử.

Rõ ràng là trong những thập niên qua, nhân loại đã quan tâm rất nhiều vào các quyền tự do cá nhân, quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền tham gia chính trị. Đây cũng là những quyền căn bản mà người dân Việt Nam hiện đang bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tước đoạt và nhất là đã và đang đàn áp, bắt giữ những công dân lên tiếng tranh đấu cho các quyền căn bản này.

Trong 70 năm dưới ánh sáng của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, xã hội tiến bộ với những cuộc cách mạng to lớn về khoa học, kỹ thuật như sự ra đời của mạng Internet, mạng xã hội, chính là nhờ Quyền con người được nâng cao. Người dân Việt Nam cũng được thừa hưởng một phần từ những tiến bộ này của nhân loại; nhưng nếu như không bị trói buộc dưới sự cai trị độc tài độc ác của đảng CSVN trong nhiều thập niên qua, người dân Việt Nam chắc chắn đã có một đời sống tốt hơn. Đó là một cuộc sống không chỉ sung mãn về vật chất, mà còn được phát huy tiềm năng và tôn trọng nhân phẩm. Trong xã hội đó, sẽ không một ai bị bắt giữ, bị cầm tù bởi những tội danh phi lý như “lợi dụng quyền dân chủ”, “tuyên truyền chống chế độ” hay “âm mưu lật đổ chế độ” chỉ vì đã dám lên tiếng nói lên sự thật, tranh đấu cho công bằng và lẽ phải.

Hơn lúc nào hết, kỷ niệm 70 năm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, người Việt Nam vẫn phải tiếp tục nỗ lực: GIÀNH LẠI NHÂN QUYỀN – ĐÒI LẠI DÂN CHỦ.

Đây cũng là chủ đề chính mà Ban Biên Tập trang nhà Việt Tân khởi xưởng để mong mọi người dành chút thì giờ chia sẻ ý kiến và suy nghĩ của mình nhân kỷ niệm 70 năm giá trị tự do của con người được minh định và đề cao trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

 

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”