Trước “LẠ” sau QUEN… rồi QUÊN?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Mấy tháng trước đây, sự “nhầm lẫn” từ câu chữ về biển đảo (được đổ cho là vì “lỗi của cậu đánh máy”) trên báo Đảng Cộng Sản khiến tờ báo của ông Đào Duy Quát phụ trách bị phạt 30 triệu đồng. Đáng nói là việc xử phạt chỉ được tiến hành khi có quá nhiều những trang mạng ngoài lề phát hiện và lên án mạnh mẽ. Trước đó đã có tình trạng các cơ quan văn hoá của nhà nước cộng sản VN chính thức phổ biến những quan điểm lạ lùng của những người làm văn hóa Việt Nam; như báo Hà Nội Mới, do Hồ Quang Lợi là tổng biên tập, đã ca ngợi tướng Hứa Thế Hữu, một tướng từng chỉ huy quân Trung Quốc đánh Việt Nam năm 1979; còn nhà xuất bản Văn Học tại Hà Nội, do Nguyễn Cừ phụ trách, tung ra thị trường cuốn Ma Chiến Hữu của Mạc Ngôn, với nhiều chi tiết khiến người đọc nghĩ cuộc xâm lược năm 1979 của Trung Quốc vào 6 tỉnh biên giới Việt Nam là một cuộc chiến bảo vệ biên giới của Trung Quốc.

Những sự kiện văn hóa lịch sử nhập nhèm nêu trên đã bị đại khối người Việt Nam yêu nước và tôn trọng sự thật lên án một cách dữ dội. Tưởng rằng sau các phản ứng đó, những người phụ trách văn hóa Việt Nam sẽ rút ra được bài học phải tôn trọng sự thực khi đụng đến những vấn đề liên quan đến lịch sử, nhất là ở một nước có nền kiểm duyệt về tư tưởng, văn hóa gắt gao như Việt Nam. Dấu ấn những cuộc thanh trừng hồi Nhân Văn Giai Phẩm vẫn còn đó. Một câu, chữ, chỉ cần bị hiểu khác đi trong nghĩa bóng cũng khiến một đời người làm văn hóa, văn nghệ bị vùi dập, tù đầy, áp bức, một nhà in, một tờ báo bị xóa sổ vĩnh viễn.

Trong một số trường hợp, sự nhập nhằng còn lộ liễu hơn nhiều. Vừa đây báo Đắc Lắc đăng bài thơ ca ngợi người lính hải quân Việt Nam, nhưng minh họa chủ quyền biển đảo lại bằng tấm ảnh lính Trung Quốc đang trấn đóng Trường Sa với đầy đủ các chữ tàu và bản đồ nước Tàu ngay bên cạnh. Việc sử dụng hình ảnh lính Trung Quốc, quân phục TQ, vũ khí TQ trước đó không lâu cũng đã xuất hiện trên những tấm pano kỷ niệm ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam; và trước nữa là hình ảnh lính hải quân TQ với chữ tàu ngay trên vành mũ trên báo Phụ Nữ để minh họa lính Việt Nam, v.v.

Tại sao sự nhầm lẫn, vay mượn, lắp ghép của Trung Quốc với Việt Nam liên tiếp xảy ra như thế? Thoạt nhìn thì sự “nhầm lẫn” này có vẻ như vô tình, hay chỉ là sự lười biếng, cẩu thả của những người thực hiện, nhưng hiện tượng không phân biệt được giữa chữ tàu và chữ quốc ngữ Việt Nam cũng như nhịp độ “vô tình” đó cứ thường xuyên hơn, dễ xí xóa hơn, dù rằng đã liên tục có những cảnh báo của báo chí “lề trái”, chỉ càng lúc càng lộ rõ tính chủ ý, có kế hoạch và được điều hướng.

Hơn ai hết những người đang nắm giữ an ninh ở Cục Bảo Vệ Chính Trị hay những nhà bảo vệ tư tưởng, bảo vệ chính trị nội bộ hiểu rõ các sự kiện nêu trên không “vô tình” chút nào cả. Những trường hợp sai sót về văn hóa, tư tưởng tương tự nếu xảy ra ngoài sự điều hợp của các “cơ quan chức năng”, dù mức độ nhỏ vô cùng, nếu ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đều bị xử lý nghiêm ngặt, rốt ráo, khẩn trương đến mức bắt nhầm hơn bỏ sót. Đã có quá nhiều người chỉ vì một bài viết, một hành động nhắc đến chủ quyền biển đảo Việt Nam mà bị mất chức như nhà báo Bùi Thanh, Huy Đức, Trung Dân, Trung Bảo; hay chịu tù đày như Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), Phạm Thanh Nghiên, Phạm Xuân Nghĩa… Tại sao họ khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam lại bị nhà nước đối xử như vậy, trong khi những người nhầm lẫn chủ quyền biển đảo Việt Nam thành của Trung Quốc của những cơ quan báo chí nhà nước lại chỉ bị xử lý hời hợt, xí xóa cho qua?

Một dẫn chứng gần đây cho thấy nhà nước không hề buông lỏng vòng kiểm soát báo chí và khó lòng có chuyện “vô ý” làm sai hàng loạt như vừa kể. Trong bài nói trước hội nghị báo chí hồi đầu tháng 5 -2010 này, Thường vụ Bộ Chính Trị Trương Tấn Sang chỉ thị việc xiết chặt hơn nữa vòng kiểm soát báo chí, và xuống tới mức chi tiết từng từ, từng chữ. Cụm từ “biển đảo” nay được ông chính thức đưa vào cuốn sổ đen từ ngữ mà chỉ các cơ quan chức năng của Đảng mới được đụng đến. Còn báo chí không được tự ý lạm bàn mả chỉ đăng lại các bài bản chính thức khi được yêu cầu. Cùng đứng trong cuốn sổ khá dầy này là những chữ “dân chủ”, “bầu cử tự do”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, “tự diễn biến”, “hiệp ước biên giới”, “Nam Quan”, “Bản Giốc”, v.v.

Tới điểm này thì ít ai còn có thể phủ nhận thái độ hiện nay của nhà nước thể hiện một chính sách có phương hướng rõ rệt. Nhưng chính sách đó là gì?

Có người cho rằng đó là chủ trương làm hài lòng Bắc Kinh bằng cách cho phép sự xâm nhập ồ ạt của văn hóa Trung Quốc sang Việt Nam trên mọi phương diện từ sân khấu, điện ảnh, văn học… đến hàng hóa và cả đường lối chính trị, kinh tế… Sự xâm chiếm tràn lan này rõ ràng đã nhanh chóng nhập sâu vào tiềm thức người làm văn hóa, tư tưởng Việt Nam, nên mới xảy ra những chuyện như dùng lại hình ảnh, dùng lại pano, sách báo, văn hóa phẩm, trang phục, kịch bản, ngoại cảnh của Trung Quốc. Đối với giới lãnh đạo hiện nay, hiểm họa mất dần bản sắc văn hóa dân tộc quả thật quá nhỏ so với nỗi lo xụp đổ chế độ nếu không có sự phù trợ từ Bắc Kinh.

Có người rành rẽ hơn còn cho rằng những vụ “nhầm, lỡ” gần đây là tác phẩm trực tiếp của các bàn tay tình báo Trung Quốc và hay ít là tiền Trung Quốc. Cả 2 loại động cơ này đã luồn vào mọi ngõ ngách, ban ngành đảng và nhà nước chứ không riêng gì ngành báo chí. Người dân thường đã có thể thấy những nhân viên Trung Quốc ngang nhiên ngồi tại các đồn công an Việt Nam để lục lọi máy vi tính của các “đối tượng có vấn đề”. Tình báo Trung Quốc cũng được công an Việt Nam thường xuyên lấy ra hăm dọa các nhà dân chủ. Nhưng lộ liễu hơn cả là sự tiếp tục hiện diện của Tổng Cục II Bộ Quốc Phòng và việc liên tục thăng chức, thăng quyền cho Tổng Cục Trưởng Nguyễn Chí Vịnh bất kể các chứng cớ cụ thể từ nhiều nhân vật cao cấp của chế độ về quan hệ của ông Vịnh với tình báo Trung Quốc. Rõ ràng chính sách hiện nay là mọi cấp, mọi ngành làm ngơ những vụ việc có hơi hướng tình báo Trung Quốc. Và chính vì vậy mà chẳng ai dám phạt và chẳng ai sợ phạt.

Và sau hết, cũng có nhiều người không tin các nhà lãnh đạo CSVN thụ động như vậy. Thực ra, sau khi đã “lỡ” tháo bán quá nhiều chủ quyền, tài nguyên, và quyền lợi của đất nước, nay lãnh đạo đảng đang chủ động tiến hành chính sách “Trước Lạ Sau Quen” để từng bước BÌNH THƯỜNG HÓA các hành vi của họ. Họ biết không thể bảo đảm khả năng giấu mãi các ký kết với Bắc Kinh dưới mắt 3 triệu đảng viên và 83 triệu người dân Việt Nam như các tấm bản đồ biên giới phía Bắc hiện nay. Trước sau gì từng vụ việc dâng nhượng cũng sẽ lọt ra ánh sáng, và có khi do chính Bắc Kinh quyết định công bố. Chính vì thế mà chính sách “Trước Lạ Sau Quen” được tiến hành để sau một thời gian, khi nhìn chung quanh, người dân Việt Nam thấy hầu hết mọi thứ đều ĐANG và SẼ là của Tàu, thì những gì lãnh đạo đảng ĐÃ nhượng cho Tàu chỉ là chuyện nhỏ của quá khứ, không còn gì đáng xem là động trời nữa.

Đứng trước những mưu đồ nhơ nhớp như vậy, thế hệ người Việt hiện nay sẽ phải làm gì để chính họ và các thế hệ con cháu tương lai không cho phép mình QUEN hay QUÊN!?

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Suy nghĩ lại về tính chính danh chính trị ở Việt Nam đương đại

Các lý thuyết hiện đại đều gặp nhau ở một điểm: Một nhà nước chỉ có thể duy trì tính chính danh lâu dài khi người dân không chỉ chấp nhận quyền lực, mà còn nhìn thấy chính mình trong những giá trị mà quyền lực ấy đại diện. Đó chính là điều nhiều học giả gọi là bản sắc chính trị, bản sắc công dân, hay rộng hơn là bản sắc quốc gia.

Đảng hay dân, ai làm kinh tế?

Khi vai trò của nhà nước, thị trường và xã hội được xác lập rõ ràng, khi niềm tin vào luật pháp được củng cố và khi sáng tạo trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, nền kinh tế sẽ có điều kiện chuyển sang giai đoạn phát triển dựa nhiều hơn vào năng suất, tri thức và năng lực cạnh tranh dài hạn.

Cuộc chiến pháp lý tháng 7/2016 – Chiến thắng của công lý

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và chạy đua vũ trang đang định hình lại cục diện Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhiều người đang cho rằng luật pháp quốc tế dường như đang lép vế trước sức mạnh quân sự. Cột mốc 10 năm Phán quyết Trọng tài Biển Đông năm 2016 là dịp để tái định giá mối quan hệ giữa “luật pháp” và “sức mạnh.”

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.