Hoàng Sa – Nỗi niềm còn đó

Trung Quốc tiếp tục bồi đắp Đá Hải Sâm, Quần đảo Hoàng Sa. Ảnh: Google Earth
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Nguyễn Công Bằng

Câu chuyện Hoàng Sa

Từ tháng 1 năm 1974, Trung Quốc đã tập trung thực hiện kế hoạch chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, cho tới trước ngày 19/1/1974, phía Trung Quốc mới chỉ nắm một phần mà thôi.

Lãnh tụ Trung Quốc Mao Trạch Đông là người am hiểu thế sự, những năm từ 1965, Hồ Chí Minh năm nào cũng cùng với đồng chí cần vụ sang “thăm” Trung Quốc, thực chất là đi chữa bệnh nghỉ dưỡng. Hồ Chí Minh sang Hàng Châu nghỉ dưỡng, được sắp xếp để tối có thời gian đi trao đổi nhiều lần với ông Mao. Lịch nghỉ cả tháng của cả hai ông, đều sắp xếp để ông Mao và ông Hồ tối nào cũng nói chuyện bên nhau.

Nhân vật số 2 của Trung Quốc lúc đó là Chu Ân Lai. Chu Ân Lai đã sang theo học bên Pháp, cho nên cũng đã quen biết Nguyễn Ái Quốc – tức Hồ Chí Minh, vốn là đảng viên đảng Cộng Sản Pháp.

Như vậy, mặc dù về quan hệ cá nhân, ông Hồ đều có quan hệ tốt với ông Mao Trạch Đông và ông Chu Ân Lai, thế nhưng, kế hoạch tấn công chiếm Hoàng Sa năm 1974, lại được cả ông Mao và Chu phê chuẩn và theo dõi sát sao cho tới lúc chiếm đóng. Điều đó cho thấy thái độ của lãnh đạo Trung Quốc đối với những lợi ích của quốc gia họ.

Hoàng Sa bây giờ

Trung Quốc đã tăng cường hoạt động cải tạo đất đá tại Đá Hải Sâm (tên tiếng Anh là Antelope Reef, Trung Quốc gọi là Linh Dương Tiêu), một đảo san hô đang tranh chấp ở Biển Đông, theo hình ảnh vệ tinh cho thấy hoạt động nạo vét mới bắt đầu từ tháng 10/2025, qua đó nhấn mạnh sự củng cố liên tục các tuyên bố chủ quyền biển của Trung Quốc.

Rạn san hô này nằm ở phía Tây Quần đảo Hoàng Sa, cách căn cứ hải quân Tam Á của Trung Quốc trên đảo Hải Nam khoảng 281 km về phía Đông Nam. Hình ảnh từ vệ tinh Sentinel-2 của Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) cho thấy hoạt động nạo vét cát tập trung tại 4 điểm dọc theo rìa phía Đông và phía Nam của đầm phá, với việc hình thành thêm đất ở cả 2 bên của một tiền đồn và cơ sở cảng hiện có.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết diện tích Biển Đông, một tuyến đường biển quan trọng vận chuyển tới 1/3 tổng lượng thương mại hàng hải toàn cầu. Hoạt động mới nhất này phù hợp với mô hình đầu tư chiến lược rộng hơn sau những nâng cấp trước đó đối với các đảo nhân tạo của Trung Quốc, bao gồm tăng cường khả năng giám sát và tác chiến điện tử.

Trước những nỗ lực này, Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI) xếp Đá Hải Sâm, cùng với Bãi Xà Cừ, Đảo Ốc Hoa và Đảo Ba Ba, là nhóm thực thể “chỉ là những bãi cát nhỏ,” có cơ sở hạ tầng tối thiểu (chỉ có một hoặc hai tòa nhà). Tuy nhiên, theo AMTI, sự hiện diện của vật liệu xây dựng và các công trình nhỏ cho thấy Trung Quốc có thể đang lên kế hoạch mở rộng các thực thể này – có thể ngay lúc này.

Đặt nỗ lực xây dựng đảo của Trung Quốc vào bối cảnh chiến thuật rộng lớn hơn, một bài báo của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) hồi tháng 7/2025 cho biết rằng các tiền đồn của Trung Quốc ở Biển Đông cung cấp khả năng nhận thức tình hình toàn diện trong mọi điều kiện thời tiết, có thể giám sát hiệu quả mọi động thái của lực lượng quân sự trong khu vực. Tại Quần đảo Hoàng Sa, Đá Hải Sâm có thể đóng vai trò là địa điểm tiền tuyến bổ sung cho các bãi đáp trực thăng và nơi neo đậu cho tàu chiến, lực lượng thực thi pháp luật hàng hải và dân quân biển của Trung Quốc, với lợi thế được tiếp tế dễ dàng từ Hải Nam.

Nó cũng tăng cường sự phân tán, chồng chéo và dự phòng cho khả năng giám sát và chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD) của PLA trong khu vực, bao gồm tình báo tín hiệu (SIGINT), tác chiến điện tử và các hệ thống tên lửa phòng không hoặc chống hạm. Những khả năng này trở nên hiệu quả hơn khi số lượng các địa điểm phân tán tăng lên.

Kế hoạch cải tạo đất của Trung Quốc tại Đá Hải Sâm có thể nhằm mục đích biến một mắt xích yếu thành một nút chức năng trong mạng lưới đảo nhân tạo của nước này ở Biển Đông. Xét trên bức tranh tổng thể, thế trận bố trí lực lượng của Trung Quốc trên các đảo nhân tạo khiến các quốc gia tranh chấp yếu hơn, chẳng hạn như Việt Nam, gặp rủi ro khi khẳng định chủ quyền lãnh thổ của mình ở Biển Đông, từ đó đảm bảo sự kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc đối với khu vực này.

Tuy nhiên, chiến lược đó có thể thất bại trong thời chiến – đặc biệt là khi xung đột Mỹ-Trung về Đài Loan lan sang Biển Đông. Một báo cáo của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS) hồi tháng 5/2025 nêu rõ rằng các căn cứ của PLA ở Biển Đông sẽ dễ bị tổn thương trước một cuộc tấn công của Mỹ.

Nhấn mạnh đánh giá đó, ông Isaac Kardon – nghiên cứu viên cao cấp về Trung Quốc tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế – lưu ý trong một phiên điều trần tháng 1/2023 trước Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Mỹ-Trung (USCC) rằng các công nghệ tấn công chính xác được phổ biến rộng rãi có thể biến các căn cứ trên đảo này thành mục tiêu mềm. Bất chấp những đánh giá đầy tự tin đó, các cuộc tấn công của Mỹ vào các sân bay quân sự có thể không hiệu quả như người ta nghĩ. Ví dụ, mặc dù Mỹ đã sử dụng 59 tên lửa hành trình Tomahawk chống lại căn cứ không quân Al-Shayrat ở Syria năm 2017, nhưng căn cứ không quân này đã được sửa chữa nhanh chóng trong vòng vài giờ và các hoạt động bay đã được nối lại ngay sau cuộc tấn công của Mỹ.

Điểm yếu của Mỹ

Chuyên gia quân sự Thomas Corbett đề cập trong một báo cáo của Viện Nghiên cứu Hàng không Vũ trụ Trung Quốc của Mỹ (CASI) tháng 6/2023 rằng PLA đã đầu tư mạnh vào việc sửa chữa đường băng và khôi phục sân bay nhanh chóng để chuẩn bị cho các cuộc không kích của Mỹ, coi các sân bay bị hư hại là một đặc điểm tất yếu của chiến tranh hiện đại.

Chuyên gia Corbett lưu ý rằng PLA đã thể chế hóa việc huấn luyện sửa chữa đường băng trên toàn bộ Không quân và Hải quân Trung Quốc, tập trung vào xử lý vật liệu nổ (EOD), cắt và lấp hố, làm mới bề mặt và dọn dẹp mảnh vỡ nhanh chóng. Ông nói thêm rằng PLA đã sử dụng kỹ thuật bê tông khô nhanh, thiết bị kỹ thuật chuyên dụng và các cuộc diễn tập sửa chữa có cấu trúc, thường tích hợp lực lượng dân quân địa phương và tài sản xây dựng dân dụng theo chiến lược hợp nhất dân-quân (MCF) của mình. Tuy nhiên, ông cảnh báo rằng các cuộc diễn tập thường thiếu tính thực tế, với thiết bị được bố trí sẵn và thời gian biểu thay đổi, có nghĩa là hiệu quả thực tế trong thời chiến vẫn chưa chắc chắn.

Việc vô hiệu hóa các tiền đồn của Trung Quốc ở Biển Đông cũng có thể rất tốn kém đối với Mỹ. Giám đốc AMTI Greg Poling đã từng lưu ý trên tạp chí “War on the Rocks” rằng có thể cần tới 300 tên lửa để phá hủy các tiền đồn lớn của Trung Quốc ở Quần đảo Trường Sa, 100 tên lửa cho đảo Phú Lâm và hàng chục tên lửa nữa cho các tiền đồn nhỏ hơn. Ông Poling nhấn mạnh rằng kịch bản như vậy có thể làm căng thẳng nguồn dự trữ tên lửa hạn chế của Mỹ khỏi các khu vực quan trọng hơn gần Nhật Bản và hòn đảo Đài Loan.

Nhấn mạnh sự thiếu hụt tên lửa tiềm tàng này, chuyên gia phân tích chính trị Seth Jones đề cập trong một báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) hồi tháng 1/2023 rằng Mỹ có thể sẽ hết các loại tên lửa dẫn đường chính xác tầm xa như Tomahawk trong vòng chưa đầy một tuần trong một cuộc xung đột Mỹ-Trung về Đài Loan, qua đó ảnh hưởng đến khả năng duy trì chiến đấu và làm suy yếu khả năng răn đe.

Ông Jones lập luận rằng cơ sở công nghiệp quốc phòng của Mỹ thiếu năng lực tăng cường cần thiết, với thời gian sản xuất tên lửa được tính bằng năm chứ không phải tháng, khiến nước này không được chuẩn bị tốt cho một cuộc chiến kéo dài, cường độ cao với Trung Quốc. Nhưng thay vì chuẩn bị để hứng chịu những đòn tấn công trừng phạt như vậy, Trung Quốc có thể đang nhằm đến việc loại bỏ hoàn toàn khả năng xảy ra những đòn tấn công đó ngay từ đầu.

Xét đến khả năng tác chiến điện tử của Trung Quốc tại các tiền đồn ở Biển Đông, một báo cáo tháng 11/2025 của USCC lưu ý rằng PLA tìm cách ngăn chặn, làm gián đoạn và làm suy yếu các cảm biến, thông tin liên lạc và tín hiệu GPS của đối phương để giành lợi thế trên các chiến trường trong tương lai, đặc biệt là trong các tình huống khẩn cấp như xung đột Đài Loan. Báo cáo nêu rõ rằng học thuyết của PLA ngày càng nhấn mạnh việc kiểm soát phổ điện từ như một phần của các hoạt động chung, nhằm mục đích ngăn chặn đối phương thu thập thông tin kịp thời và chính xác trong khi bảo vệ mạng lưới của chính mình.

Những khả năng này cũng có thể ngăn cản lực lượng Mỹ và đồng minh liên lạc, phát hiện, nhận dạng, theo dõi và tấn công vào lợi thế cốt lõi của PLA – hệ thống chỉ huy, kiểm soát và liên lạc mạnh mẽ được phân tán trên các đảo nhân tạo của họ. Điều này đặt ra câu hỏi liệu hỏa lực của Mỹ có thể thành công trước chiến lược của Trung Quốc hay không, chiến lược này hạn chế quyền tiếp cận thông tin của Mỹ – về cơ bản là làm mù lực lượng Mỹ. Nó cũng làm nổi bật sự khác biệt về chiến lược: Mỹ nhằm vào các điểm yếu then chốt, trong khi Trung Quốc nhằm mục đích hạn chế các lựa chọn của đối phương.

Các lựa chọn xây dựng của Trung Quốc như đối với Đá Hải Sâm thuộc Hoàng Sa hiện nay, cho thấy vai trò cũng như tầm nhìn của họ. Đối với khả năng của Trung Quốc hiện nay, Việt Nam coi như ngoài tầm với về vấn đề Hoàng Sa, mặc dù có lẽ, đây lại là vấn đề mà Việt Nam có nhiều bằng chứng nhất.

 

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Công nhân tại một xưởng giày ở Sài Gòn. Ảnh minh họa: Reuters

EU đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch

Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Minh Châu Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới?

Đình chiến của người Mỹ, danh dự của người Ba Tư

Ý niệm rằng Iran là một trung tâm lịch sử, một quốc gia từng là đế chế, một cộng đồng chính trị không chấp nhận bị xếp lại vào vai một kẻ phải nghe lệnh.

Khi xung đột được cảm nhận dưới lăng kính đó, mọi đòn đánh từ bên ngoài không chỉ làm thiệt hại phần cứng quân sự; chúng còn nuôi dưỡng một câu chuyện rất nguy hiểm ở bên trong: Iran không chỉ bị tấn công, Iran bị làm nhục. Và một dân tộc cảm thấy mình bị làm nhục thường không dễ bước vào đình chiến với tâm thế kỹ trị.

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) trực thuộc chính phủ chuyển sang đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương đảng. Ảnh: Công nghệ Số & Truyền thông

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam: Phép thử bước ngoặt cho khoa học Việt Nam

Đây không còn là vấn đề điều chỉnh cơ cấu, mà là một bước ngoặt xác định lại vị thế của VAST (Viện Hàn lâm KH&CN): Tiếp tục là một trụ cột không thể thay thế của hệ thống khoa học quốc gia, hay dần bị phân rã và hòa vào các cấu trúc khác. Nói cách khác, phía trước không chỉ là thách thức cải tổ, mà là phép thử trực tiếp đối với lý do tồn tại của Viện Hàn lâm KH&CN.

Ảnh minh họa: Putin (trái) và Tô Lâm

Từ Moscow đến Hà Nội: Khi quyền lực chọn con đường cô lập

Những gì đang diễn ra tại Việt Nam, nhất là từ sau đại hội 14 cho thấy một xu hướng đáng lo ngại: Quyền lực không còn muốn bị giới hạn.

Quyết định đưa các cơ quan truyền thông (VOV, VTV, TTXVN) và hai cơ quan học thuật nằm dưới sự quản lý và chỉ huy của bộ máy đảng không phải là cải tổ. Đó là thâu tóm.