Cải cách thuế cần một “khoảng đệm” cho người dân

Ảnh minh hoạ: 3 mốc doanh thu hộ kinh doanh kê khai thuế theo Nghị định 68/2026/NĐ-CP (Đồ họa: Cafef)
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

TS Tô Văn Trường

Cải cách thuế là tiến trình tất yếu để hiện đại hóa nền kinh tế, xây dựng một hệ thống tài chính minh bạch và công bằng. Nghĩa vụ thuế không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là sự đóng góp thiết thực của mỗi cá nhân vào sự phát triển chung. Tuy nhiên, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, điều quan trọng nhất là mức độ phù hợp với thực tế và khả năng tiếp cận của người dân.

Khoảng cách giữa pháp lý và đời sống

Một vấn đề cần nhìn nhận thẳng thắn là quy trình làm luật hiện nay đôi khi còn vội vã, xem nhẹ khâu đánh giá tác động. Việc lấy ý kiến người dân và đối tượng chịu tác động nhiều khi mang tính hình thức, chưa thực sự cầu thị và chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn đa dạng của đời sống kinh tế.

Không ít trường hợp, ý kiến góp ý không được tiếp thu hoặc phản hồi thỏa đáng, dẫn đến khoảng cách giữa chính sách ban hành và khả năng thực thi trên thực tế. Chính vì vậy, dù chủ trương cải cách là đúng đắn, nhưng nếu thiếu nền tảng đánh giá tác động đầy đủ và cơ chế tham vấn thực chất, chính sách dễ rơi vào tình trạng “đúng về nguyên tắc nhưng vướng khi áp dụng.”

Vấn đề cốt lõi là việc xây dựng chính sách đôi khi chưa xuất phát đầy đủ từ đặc thù của kinh tế quy mô nhỏ. Nhận thức pháp luật của các hộ kinh doanh không đồng đều, đặc biệt là nhóm kinh doanh truyền thống hoặc lớn tuổi. Khi quy định mới liên tục ra đời mà hướng dẫn chưa đồng bộ, tâm lý phổ biến của người dân không phải là sẵn sàng tuân thủ, mà là hoang mang.

Đáng chú ý, nhận định về tỷ lệ hộ kinh doanh được miễn thuế dựa trên ngưỡng 500 triệu đồng/năm có thể chưa phản ánh sát thực tế. Trong nhiều năm, cơ chế thuế khoán với mức kê khai thấp – hệ quả của hạn chế quản lý và những thỏa thuận “ngầm” đã làm sai lệch dữ liệu doanh thu. Khi nền tảng dữ liệu thiếu chính xác, việc hoạch định chính sách khó đảm bảo tính công bằng và hiệu quả.

Một điểm then chốt cần phân tích sâu là các ngưỡng áp dụng trong chính sách hiện nay. Chủ trương minh bạch hóa và hiện đại hóa quản lý thuế là hoàn toàn đúng, nhưng các quy định cụ thể đặc biệt là ngưỡng miễn thuế và ngưỡng áp dụng hóa đơn điện tử lại chưa thực sự phù hợp với thực tế đời sống kinh doanh nhỏ lẻ. Mức miễn thuế 500 triệu đồng/năm (khoảng 1,3–1,4 triệu đồng/ngày) nếu nhìn trên doanh thu có thể hợp lý, nhưng nếu tính đến chi phí mặt bằng, nhân công, nguyên liệu thì lợi nhuận thực tế của nhiều hộ kinh doanh là rất thấp. Như vậy, ngưỡng này chưa phản ánh đúng khả năng chịu thuế thực tế của người dân.

Tương tự, ngưỡng 1 tỷ đồng/năm để áp dụng hóa đơn điện tử từ máy tính tiền cũng cần được xem xét lại. Với nhiều hộ kinh doanh, việc đạt mức doanh thu này không đồng nghĩa với việc họ đã sẵn sàng về năng lực quản trị, kế toán hay công nghệ. Việc áp dụng quy định này vì thế tạo ra áp lực lớn, không chỉ về chi phí mà còn về kỹ năng thực hiện.

Hai ngưỡng này cần được đánh giá lại một cách thực chất, dựa trên dữ liệu sát thực tế hơn, bởi đây chính là “điểm chạm” trực tiếp giữa chính sách và đời sống. Nếu không điều chỉnh hợp lý, chính sách dễ tạo ra phản ứng ngược, làm giảm động lực mở rộng kinh doanh chính thức.

Hệ quả của giai đoạn quản lý thiếu đồng bộ

Suốt thời gian dài, công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh chủ yếu mang tính định kỳ, thiếu sự kiểm tra và hướng dẫn thường xuyên. Truyền thông chính sách cũng chưa được đầu tư đúng mức. Điều này khiến nhiều hộ kinh doanh hình thành thói quen coi thuế khoán như một khoản chi phí cố định, thiếu động lực điều chỉnh theo doanh thu thực tế. Chỉ vài năm gần đây, khi quản lý thuế được số hóa và liên thông dữ liệu, việc kiểm soát mới trở nên chặt chẽ.

Tuy nhiên, tốc độ thay đổi quá nhanh tạo ra thách thức cho những người chưa kịp thích nghi, dẫn đến tình trạng bị truy thu đột ngột. Nhiều hộ kinh doanh cảm thấy bị động, thậm chí có tâm lý bị “đánh úp” dù không chủ đích vi phạm mà chỉ do thiếu thông tin.

Các ngưỡng doanh thu hiện hành đang bộc lộ điểm chưa sát thực tế. Việc áp dụng hóa đơn điện tử từ máy tính tiền hay thay đổi cách tính thuế thu nhập cá nhân cũng tạo áp lực lớn về thủ tục. Với hộ kinh doanh nhỏ, đây không chỉ là bài toán tài chính mà còn là rào cản về kỹ năng sổ sách. Hệ quả là một nghịch lý: Mở rộng quy mô thì đối mặt với nghĩa vụ phức tạp nhưng thu hẹp thì không đủ đảm bảo cuộc sống. Điều này dễ dẫn đến xu hướng kinh doanh cầm chừng hoặc chia nhỏ doanh thu, đi ngược lại mục tiêu phát triển kinh tế hộ.

Việc truy thu thuế, nhất là trong thương mại điện tử, đang gây nhiều băn khoăn. Khi dữ liệu giao dịch rõ ràng, cơ quan thuế có cơ sở để thực hiện truy thu. Tuy nhiên, nếu chỉ tập trung vào kênh online trong khi bản chất kinh doanh không đổi, sẽ tạo cảm giác thiếu công bằng. Với người dân, online hay offline chỉ là phương thức tiếp cận thị trường. Sự khác biệt trong cách quản lý nếu không được lý giải thỏa đáng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến niềm tin và mức độ hợp tác. Phản ứng của người dân trong nhiều trường hợp không phải là chống đối chính sách, mà là sự lo lắng, bị động trước những thay đổi quá nhanh và thiếu chuẩn bị.

Năng lực tiếp cận chính sách của một bộ phận người dân còn hạn chế. Quy trình kê khai, lập hóa đơn dù đã số hóa nhưng vẫn là thách thức với người lớn tuổi hoặc người ít tiếp xúc công nghệ. Nếu thiếu các chương trình hỗ trợ hiệu quả, chính sách dù đúng cũng khó đi vào thực tế. Bên cạnh đó, các chế tài xử phạt nặng đối với những sai sót khách quan đang tạo thêm áp lực tâm lý nặng nề cho người kinh doanh nhỏ lẻ.

Vấn đề không phải là có nên cải cách hay không, mà là lộ trình thực hiện như thế nào. Người dân không né tránh nghĩa vụ, nhưng họ cần thời gian để hiểu và điều chỉnh hoạt động theo quy định mới. Một “khoảng đệm” đủ dài cùng truyền thông rõ ràng và cơ chế hỗ trợ cụ thể sẽ giúp quá trình chuyển đổi êm ái hơn, giảm thiểu xung đột xã hội. Quan trọng hơn, việc điều chỉnh các ngưỡng chính sách đặc biệt là ngưỡng miễn thuế và ngưỡng áp dụng hóa đơn điện tử cần được xem như một phần của lộ trình này, thay vì áp dụng cứng nhắc.

Niềm tin – Yếu tố cốt lõi

Khi chính sách được hiểu đúng trong môi trường minh bạch, việc tuân thủ sẽ trở thành lựa chọn tự nhiên. Lúc đó, sự nhất quán và liêm chính trong thực thi sẽ quan trọng hơn các biện pháp xử phạt nặng nề. Cải cách thuế không chỉ là câu chuyện thu ngân sách, mà là bài toán về niềm tin xã hội. Một chính sách chỉ thành công khi người dân cảm thấy được lắng nghe và đồng hành. Chính sách thuế cần “đi chậm lại một bước” để sát thực tế hơn, linh hoạt và nhân văn hơn. Bởi chỉ khi đó, cải cách mới không phải là gánh nặng, mà thực sự là động lực cho sự phát triển bền vững.

Tác giả gửi BVN 

Nguồn: Bauxite Việt Nam

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore tối 29/5/2026. Ảnh: Reuters

Một bài diễn văn không có chân trời

Bài diễn văn có khái niệm, nhưng thiếu tầm nhìn; có ngôn ngữ ngoại giao, nhưng thiếu bản lĩnh chiến lược. Người nghe không thấy một Việt Nam đang tự ý thức đầy đủ về vị thế của mình: Một quốc gia gần 100 triệu dân, nằm trên một trong những huyết mạch hàng hải quan trọng nhất thế giới, và đang đứng trước cơ hội hiếm có để trở thành một cường quốc hạng trung có trọng lượng tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Các quân nhân Nhật Bản trong cuộc tập trận chung với Hoa Kỳ và Philippines, Paoay, Philippines, tháng 5 năm 2026. Ảnh: Noel Celis/ Reuters

Xu hướng bình thường hóa quốc phòng không thể đảo ngược của Nhật Bản

Một Nhật Bản mạnh mẽ hơn, ví dụ, có ý nghĩa quyết định trong việc răn đe Trung Quốc tấn công Đài Loan. Bắc Kinh sẽ không chọn đối đầu với một liên minh không chỉ gồm các lực lượng Mỹ và Đài Loan mà còn có cả các lực lượng Nhật Bản được trang bị tốt. Và ngày càng có nhiều khả năng Trung Quốc phải giả định rằng Tokyo sẽ can dự vào một cuộc xung đột liên quan đến hòn đảo này…

Bạo lực học đường. Ảnh minh họa: Báo Phụ Nữ Mới

Bạo lực học đường: Nạn nhân phải tự bảo vệ?

Cái trẻ  cần để có được niềm tin là hành động dứt khoát của người lớn: Xử lý kẻ bắt nạt nghiêm khắc, minh bạch, trẻ phải được bảo vệ danh tính khi tố cáo bạo lực học đường để tránh bị trả thù, bố mẹ phải bảo vệ con và là người đầu tiên trẻ báo tin bị bạo lực chứ không phải là người cuối cùng biết đến sau khi mọi thứ đã bị tung lên mạng xã hội.

Cảnh Sát Cambodia và hai nghi can vụ nổ súng Vaa Vaa và Tafia Steve ở Sài Gòn. Ảnh: Khmer Times

“Ở đâu cũng thấy Lý Thông…”

Một xã hội mà ở đó, ai cũng muốn làm người báo công. Không ai muốn làm người gánh trách nhiệm. Ai cũng muốn xuất hiện trên màn ảnh để được tuyên dương. Không ai muốn xuất hiện trong các biên bản kiểm điểm. Thì dần dần, năng lực thật sẽ bị thay thế bằng nghệ thuật kể công.

Người ta không còn hỏi: “Ai làm?” mà hỏi: “Ai được quyền nhận là mình làm?” Đó mới là bi kịch.