Bạo lực học đường: Nạn nhân phải tự bảo vệ?

Bạo lực học đường. Ảnh minh họa: Báo Phụ Nữ Mới
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Diễm My

Trách nhiệm kiến tạo sự an toàn thuộc về người lớn chứ không phải của đứa trẻ.

Trong khi những vụ bạo lực học đường đầy đau xót xảy ra, VOV2 đã có một Podcast về “Bạo lực học đường và những khoảng trống giám sát.” Đáng chú ý, bà TS. Nguyễn Thị Mai Thoa, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội khi nói về các giải pháp cho vấn nạn này đã khuyên rằng trẻ phải có ý thức tự bảo vệ bản thân trước nạn bạo lực học đường.

Bà nói “ Trẻ cần có kỹ năng tự bảo vệ bản thân mình để tránh bị bạo lực học đường… Tự giải quyết khi bị bắt nạt, nếu không giải quyết được phải báo người lớn, cha mẹ thầy cô, những người mà trẻ tin tưởng xung quanh mình, thậm chí là hàng xóm, gọi cho đường dây nóng. Các con phải có niềm tin đang có rất nhiều người xung quanh sẵn sàng hành động để bảo vệ mình…”

Ý kiến này nghe qua thì rất đầy đủ và hợp lý, nhưng lại đặt toàn bộ trách nhiệm lên vai đứa trẻ bị bạn bè hiếp đáp, đánh đập và là đối tượng yếu thế nhất, đang bị tổn thương nhất và cần được bảo vệ nhất.  Những đứa trẻ bị bắt nạt có lẽ chưa bao giờ lại cô độc đến như thế.

Né tránh hệ thống và đổ lỗi cho nạn nhân

Khi cho rằng trẻ phải có kỹ năng tự giải quyết khi bị bắt nạt, khi trẻ biết tự tôn trọng bản thân thì mới có ứng xử phù hợp, họ đã biến vấn đề an ninh học đường và trách nhiệm quản lý thành năng lực cá nhân của đứa trẻ yếu thế. Đây là chẳng khác gì đổ lỗi ngược cho nạn nhân.

Một đứa trẻ lớp 1 mới 6 tuổi, thì tự bảo vệ bằng cách nào? Nếu nó không tự bảo vệ được là do nó thiếu kỹ năng, chưa đủ lòng tự tôn? Nó sẽ phải tự giải quyết khi bị đánh hội đồng vì không cho bạn ăn bánh ra sao?

Yêu cầu một đứa trẻ “phải tự bảo vệ bản thân và tự giải quyết khi bị bắt nạt” là một yêu cầu bất khả thi.  Những trẻ đi bắt nạt trẻ khác luôn chọn những nạn nhân yếu thế hơn: Ốm yếu hơn, nhút nhát về tâm lý, cô độc, nhà nghèo hay thậm chí chỉ vì “nhìn thấy ghét.”

Những đứa trẻ bị bạn hành hung thường hoảng loạn, sợ hãi tột độ và mất hoàn toàn khả năng phản kháng. Khi đó trẻ làm sao có thể phân định đâu là lối ‘ứng xử phù hợp”?

Những yêu cầu vô lý này xuất phát từ một hệ thống dường như bất lực.

Phụ huynh không có thời gian theo sát con, giao hết cho nhà trường, thậm chí không biết con bị bắt nạt.

Nhà trường chỉ dạy văn hoá, chạy theo thành tích, học sinh phải học ngày học đêm để đạt được thành tích làm đẹp học bạ cho cha mẹ và nhà trường. Những bài học về sự thấu cảm, lòng trắc ẩn, cách kiểm soát cảm xúc tiêu cực, và kỹ năng ứng phó với xung đột… không thể học được từ những người thầy vô cảm, sợ trách nhiệm.

Bên cạnh đó, mạng xã hội với những video, clip về bạo hành học đường, đánh ghen, tẩy chay thường được chia sẻ mạnh, khiến cho trẻ ảo tưởng về sức mạnh của bạo lực và cái ác. Ngoài ra, trẻ vị thành niên khi vi phạm vẫn chưa bị xử lý phù hợp, cơ chế pháp lý còn lúng túng, chưa đủ sức răn đe.

Niềm tin ở đâu?

Bà đại biểu quốc hội  khuyên trẻ: “Nếu không giải quyết được phải báo người lớn… Phải có niềm tin…” Nhưng niềm tin và thực tế lại hoàn toàn trái ngược nhau. Trẻ bị bạo lực học đường hoàn toàn cô độc.

Bạn bè xung quanh dửng dưng quay phim để tung lên mạng mà không ai can ngăn vì sợ bị vạ lây. Trẻ đã bị bạn đánh vỡ mũ bảo hiểm, cô giáo chủ nhiệm biết nhưng không báo cho gia đình. Trẻ bị bạn đánh, xin chuyển lớp, cô giáo chủ nhiệm lớp mới không chịu nhận vì phụ huynh đã từng đăng bài phàn nàn trên Facebook.  Bố mẹ bận rộn, chỉ biết đến khi sự việc đã đi quá đà. Chưa hết, trẻ bị bạo hành thể xác, bị làm nhục nhưng lại được động viên đi học lại tại nơi đã từng tạo ra ám ảnh tâm lý dai dẳng cho trẻ.

Nhiều trường học và giáo viên thường chọn cách giải quyết nội bộ để bảo vệ danh tiếng của nhà trường, bảo vệ giáo viên, bảo vệ ban giám hiệu mà không chú trọng gì đến việc bảo vệ an toàn tinh thần của học sinh.

Khi ai cũng thờ ơ, thì trẻ lấy đâu ra niềm tin để tin rằng mình được bảo vệ? Trẻ đã được bài học về niềm tin đầu đời trong trường học. Thầy cô quay lưng hoặc né tránh vì sợ rắc rối, quyền lực và sức mạnh có thể chi phối sinh mệnh của một người khác mà không bị trừng phạt đích đáng, phải biết dối trá và im lặng để được “yên thân.”  Giáo viên trở thành thợ dạy, tạo ra những đứa trẻ robot, không cảm xúc. Để cho xã hội dần trở thành một xã hội vô cảm.

Cái trẻ  cần để có được niềm tin là hành động dứt khoát của người lớn: Xử lý kẻ bắt nạt nghiêm khắc, minh bạch, trẻ phải được bảo vệ danh tính khi tố cáo bạo lực học đường để tránh bị trả thù, bố mẹ phải bảo vệ con và là người đầu tiên trẻ báo tin bị bạo lực chứ không phải là người cuối cùng biết đến sau khi mọi thứ đã bị tung lên mạng xã hội.

Thay vì dạy trẻ “phải tự bảo vệ,” xã hội và nhà trường cần phải thiết lập một môi trường mà ở đó trẻ cảm thấy an toàn,  không cần phải gồng mình lên để tự bảo vệ. Trách nhiệm kiến tạo sự an toàn thuộc về người lớn chứ không phải của đứa trẻ.

Nguồn: Việt Nam Thời Báo

XEM THÊM:

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Sách "Chuyện với Thanh" và tác giả Nguyễn Thành Nam

Xã hội sẽ “tử tế” kiểu gì khi “hoàn lưu” những cuộc đấu tố trở lại?

Gieo nỗi sợ, người ta sẽ gặt được sự giả dối. Gieo đấu tố, người ta sẽ gặt sự phản trắc. Gieo thói quen kết tội người khác để bảo vệ mình, người ta sẽ tạo ra một xã hội trong đó không ai thực sự bảo vệ ai. Đến một ngày nào đó, khi chính quyền cần sự dấn thân, lòng can đảm và tinh thần trách nhiệm của công dân, điều họ nhận lại có thể chỉ là những khuôn mặt im lặng, những lời nói theo mẫu và một xã hội đã rút hết sinh khí vào bên trong.

Cuốn sách "Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng" bị thu hồi và tiêu hủy. Ảnh: Nhà xuất bản Hội Nhà Vă

Vụ Nguyễn Thành Nam và màn kịch bệnh hoạn của cả một xã hội

Càng theo dõi diễn biến của vụ việc Nguyễn Thành Nam, người ta càng nhận ra đây không phải là một vụ án “thông thường.” Điều khiến nó trở nên đặc biệt không nằm ở điều luật được áp dụng, mà nằm ở chính con người bị áp dụng điều luật ấy.

Bởi lần đầu tiên trong nhiều thập niên, một người từng công khai giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh, viết sách với mong muốn làm cho người trẻ hiểu và yêu Hồ Chí Minh hơn, lại bị cáo buộc là người “tuyên truyền chống Nhà nước.”

Ông Tô Lâm phát biểu tại Hội nghị Sơ kết 1 năm vận hành cơ chế mới tổ chức vào ngày 1 tháng 7, 2026. Ảnh chụp từ trang mạng Thể Thao & Văn Hóa

Điểm nghẽn của chế độ Tô Lâm

Điểm nghẽn lớn nhất của Việt Nam hôm nay không còn chỉ là thể chế hay năng lực thực thi. Điểm nghẽn sâu xa hơn là mục tiêu phát triển.

Một quốc gia sẽ đi theo đúng mục tiêu mà nó lựa chọn. Nếu mục tiêu cao nhất là duy trì quyền lực, thì mọi chính sách cuối cùng sẽ phục vụ cho việc bảo vệ quyền lực. Nhưng nếu mục tiêu cao nhất là con người và dân tộc Việt Nam, thì toàn bộ hệ thống chính trị, giáo dục, kinh tế và văn hóa sẽ phải được tổ chức lại để khai mở tiềm năng của con người.

Thủ đô Seoul của Hàn Quốc. Quốc gia này là một trong số những ví dụ thành công về việc thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình.” Ảnh: Gije Cho - Pexels

Bẫy thu nhập trung bình

Cái bẫy này người ta gọi là Bẫy thu nhập trung bình, thuật ngữ do hai nhà kinh tế Indermit Gill và Homi Kharas đặt ra năm 2007, khi họ đang nghiên cứu chiến lược phát triển cho các nước Đông Á.

Ý tưởng cốt lõi thì đơn giản thôi: Một quốc gia nghèo có thể tăng trưởng khá nhanh nhờ mấy lợi thế có sẵn, tài nguyên, nhân công rẻ, hay viện trợ nước ngoài. Nhưng đến một ngưỡng nào đó, mọi thứ chững lại. Lương tăng lên rồi, thế là mất luôn lợi thế “rẻ.”