Ba khoảng cách giữa ảo vọng và thực tế

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

GS Nguyễn Văn Tuấn

Việt Nam có nhiều khát vọng lớn. Muốn có những người như Steve Jobs, Elon Musk. Muốn làm AI, bán dẫn, công nghệ cao. Muốn có nền y tế ngang hàng với các nước tiên tiến. Muốn có đại học đẳng cấp quốc tế.

Tôi nghĩ khát vọng đó là tốt quá. Một quốc gia cần có ước mơ lớn. Một xã hội thiếu khát vọng thì khó đi xa.

Nhưng khát vọng chỉ có giá trị khi nó đi kèm với một cái nhìn thực tế về năng lực của mình. Khi khoảng cách giữa điều muốn đạt và điều đang có quá xa, khát vọng rất dễ biến thành ảo vọng.

Theo tôi, Việt Nam hiện nay có ít nhứt 3 khoảng cách cần nhìn thẳng:

– Hình ảnh và năng lực

– Phong trào và thể chế

– Danh và thật

Khoảng cách thứ nhứt: Hình ảnh và năng lực

Chúng ta thích nói về những chữ rất đẹp: Đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, thông minh nhân tạo, bán dẫn, thành phố thông minh, bệnh viện thông minh, đại học đẳng cấp quốc tế.

Những từ đó nghe rất hay. Nhưng năng lực thật nằm ở những câu hỏi cụ thể hơn nhiều.

Có bao nhiêu đại học Việt Nam là đại học nghiên cứu đúng nghĩa? Có bao nhiêu nhóm nghiên cứu có thể cạnh tranh quốc tế? Có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam đầu tư nghiêm túc cho R&D? Có bao nhiêu sản phẩm công nghệ cao do người Việt thiết kế, làm chủ, đăng ký bằng sáng chế, xây dựng thương hiệu và bán ra thị trường toàn cầu?

Không nhiều.

Việt Nam xuất cảng rất nhiều hàng công nghệ cao. Nhưng phần lớn hàng công nghệ cao đó là do các công ty nước ngoài sản xuất tại Việt Nam. Samsung, Intel, Foxconn, LG, Canon, Pegatron, Quanta và nhiều tập đoàn khác đã giúp Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Đó là một thành tựu đáng ghi nhận.

Nhưng xuất cảng công nghệ cao từ lãnh thổ Việt Nam không đồng nghĩa với làm chủ công nghệ cao của Việt Nam.

Một cái điện thoại được lắp ráp ở Việt Nam có thể tạo việc làm, ngoại tệ, và kinh nghiệm công nghệ. Nhưng thiết kế sản phẩm, chip, hệ điều hành, bằng sáng chế, thương hiệu, chiến lược thị trường, và phần lợi nhuận cao nhứt thường vẫn thuộc về công ty mẹ ở Nam Hàn, Đài Loan, Nhật, Mỹ hay Singapore.

Điều này cũng giống như một người làm bếp rất giỏi trong nhà hàng của người khác. Anh ta có tay nghề, có kinh nghiệm vận hành. Nhưng công thức, thương hiệu, vốn, chuỗi cung ứng, và quyền quyết định thực đơn vẫn thuộc về chủ nhà hàng. Muốn trở thành người chủ thực sự, anh ta cần nhiều hơn kỹ năng nấu ăn. Anh ta cần tri thức, vốn, quản trị, sáng tạo, và quyền sở hữu.

Nói cách khác, Việt Nam hiện nay mạnh hơn trong vai trò công xưởng công nghệ cao, nhưng còn yếu trong vai trò trung tâm sáng tạo công nghệ cao.

Điều này không có gì đáng xấu hổ. Nước nào cũng phải đi qua giai đoạn học nghề, gia công, lắp ráp, tham gia chuỗi cung ứng. Nhưng điều quan trọng là phải biết mình đang ở giai đoạn nào. Nếu tưởng rằng lắp ráp công nghệ cao là đã làm chủ công nghệ cao, thì đó là một ngộ nhận nguy hiểm.

Trong y tế cũng vậy. Một bệnh viện có máy móc hiện đại chưa chắc đã là một bệnh viện tiên tiến. Một ca mổ phức tạp được đưa lên báo chưa chắc phản ảnh phẩm chất của cả hệ thống y tế.

Nền y tế tiên tiến bắt đầu từ những điều rất căn bản. Bệnh viện sạch, người bệnh không phải nằm chung giường. Nhiễm trùng bệnh viện được kiểm soát tốt. Hồ sơ bệnh án đầy đủ. Cấp cứu được phân loại đúng, thời gian chờ hợp lý, chăm sóc ban đầu mạnh. Dữ liệu y tế đáng tin cậy. Kết cục điều trị được đo lường thường qui.

Một nền y tế chưa giải quyết tốt bệnh viện quá tải và nhiễm trùng bệnh viện thì rất khó nói là ngang hàng với các nước tiên tiến.

Có thể có vài điểm sáng. Có thể có vài kỹ thuật cao. Nhưng một hệ thống y tế mạnh phải được đánh giá bằng chất lượng căn bản mà mọi bệnh nhân đều nhận được, chớ không chỉ bằng vài thành tích nổi bật.

Khoảng cách thứ hai: Phong trào và thể chế

Việt Nam rất giỏi phát động phong trào.

Phong trào chuyển đổi số. Phong trào khởi nghiệp. Phong trào đổi mới sáng tạo. Phong trào công bố quốc tế. Phong trào xếp hạng đại học. Phong trào bệnh viện thông minh. Phong trào AI. Phong trào bán dẫn.

Phong trào có thể tạo khí thế. Nhưng khoa học, công nghệ và y tế không thể phát triển bền vững chỉ bằng khí thế.

Cái cần hơn là thể chế.

Thể chế là luật chơi rõ ràng. Là tuyển dụng dựa trên năng lực. Là tài trợ nghiên cứu qua cạnh tranh minh bạch. Là đánh giá độc lập. Là trách nhiệm giải trình. Là dữ liệu công khai. Là tiêu chuẩn nghề nghiệp. Là quyền tự chủ thật sự của đại học. Là bệnh viện được đánh giá bằng kết cục điều trị và an toàn người bệnh, không chỉ bằng số giường hay số kỹ thuật cao.

Phong trào thường có tính ngắn hạn. Thể chế có tính dài hạn.

Phong trào thích khẩu hiệu. Thể chế cần kỷ luật.

Phong trào thích con số đẹp. Thể chế cần dữ liệu thật.

Phong trào dễ tạo thành tích. Thể chế mới tạo năng lực.

Một quốc gia muốn có Steve Jobs hay Elon Musk không thể chỉ tổ chức vài hội nghị khởi nghiệp, vài cuộc thi đổi mới sáng tạo, hay vài chương trình gọi vốn.

Cần có môi trường trong đó người trẻ được phép đặt câu hỏi, được thử nghiệm, được thất bại, được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, được tiếp cận vốn, và được cạnh tranh công bằng.

Một quốc gia muốn có đại học đẳng cấp quốc tế không thể chỉ đặt mục tiêu xếp hạng. Cần có giáo sư giỏi, sinh viên giỏi, tự do học thuật, phòng thí nghiệm tốt, tài trợ nghiên cứu ổn định, văn hoá tranh luận, và hệ thống đánh giá khoa học nghiêm chỉnh.

Một quốc gia muốn có y tế tiên tiến không thể chỉ xây thêm bệnh viện lớn. Cần có y tế cơ sở mạnh, hệ thống chuyển tuyến hợp lý, kiểm soát nhiễm trùng, dữ liệu lâm sàng, đào tạo liên tục, và văn hoá an toàn người bệnh.

Thể chế là phần chìm của tảng băng. Không thấy nó trên báo mỗi ngày, nhưng không có nó thì không có tiến bộ thật.

Khoảng cách thứ ba: Chức danh và năng lực thật

Việt Nam có rất nhiều tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư, viện nghiên cứu, trung tâm, hội đồng, đề án, chiến lược.

Nhưng một quốc gia mạnh không được đo bằng số chức danh. Một nền khoa học mạnh không được đo bằng số lễ công bố. Một nền y tế mạnh không được đo bằng số bảng hiệu.

Năng lực thật thể hiện ở việc làm được gì.

Trong khoa học, năng lực thật là đặt được câu hỏi có ý nghĩa, thiết kế nghiên cứu tốt, tạo ra tri thức mới, và có ảnh hưởng trong cộng đồng học thuật.

Trong công nghệ, năng lực thật là tạo ra sản phẩm, làm chủ thiết kế, làm chủ công nghệ lõi, sở hữu bằng sáng chế, xây dựng thương hiệu, và cạnh tranh được trên thị trường quốc tế.

Trong y tế, ưu tiên là giảm số ca nhập viện và tái nhập viện. Cái này nên là mục tiêu số 1, chứ không phải công nghệ cao, AI hay những thứ cao siêu quá tầm.

Trong y tế, năng lực thật là giảm tử vong, giảm biến chứng, giảm nhiễm trùng bệnh viện, giảm thời gian chờ, tăng an toàn người bệnh, và làm cho người nghèo cũng được chăm sóc tử tế.

Chức danh có thể cần thiết. Bằng cấp có thể quan trọng. Nhưng chức danh và bằng cấp chỉ có giá trị khi chúng phản ảnh năng lực thật.

Một xã hội quá trọng hình thức rất dễ nhầm lẫn giữa “có danh” và “có tài,” giữa “có đề án” và “có năng lực,” giữa “có trung tâm” và “có hệ sinh thái,” giữa “có công bố” và “có đóng góp khoa học,” giữa “có máy móc hiện đại” và “có y tế chất lượng cao.”

Đây là một nhầm lẫn nguy hiểm, vì nó làm cho chúng ta tưởng rằng mình đã tiến xa hơn thực tế.

Tôi nghĩ vấn đề của Việt Nam không phải là thiếu người giỏi. Người Việt chúng ta học nhanh, chịu khó, linh hoạt, và có khát vọng vươn lên. Rất nhiều người Việt thành công trong khoa học, y khoa, công nghệ và kinh doanh khi họ được đặt trong môi trường tốt.

Vấn đề lớn hơn nằm ở môi trường và thể chế. Một người giỏi cần một môi trường để phát triển. Một nhà khoa học cần tự do học thuật và tài trợ nghiêm túc. Một bác sĩ cần hệ thống bệnh viện an toàn và chuyên nghiệp. Một doanh nhân công nghệ cần thị trường vốn, luật chơi minh bạch và quyền sở hữu trí tuệ. Một sinh viên tài năng cần thầy giỏi, phòng thí nghiệm tốt, và văn hoá khuyến khích suy nghĩ độc lập.

Vì vậy, thay vì hỏi “khi nào Việt Nam có Steve Jobs,” có lẽ nên hỏi những câu thực tế hơn:

Khi nào Việt Nam có đại học nghiên cứu đúng nghĩa?

Khi nào nhà khoa học trẻ có thể sống được bằng nghiên cứu nghiêm túc?

Khi nào doanh nghiệp Việt Nam đầu tư dài hạn vào R&D?

Khi nào bệnh viện xem nhiễm trùng bệnh viện là một chỉ số sống còn về phẩm chất?

Khi nào dữ liệu y tế được xem là tài sản quốc gia?

Khi nào người có năng lực được trao quyền nhiều hơn người có quan hệ?

Những câu hỏi đó kém hào nhoáng hơn. Nhưng đó mới là những câu hỏi căn bản.

Tôi không nghĩ Việt Nam nên bỏ khát vọng lớn. Ngược lại, Việt Nam cần khát vọng lớn hơn nữa. Nhưng khát vọng lớn phải đi cùng sự thành thật lớn.

Thành thật để thấy rằng xuất cảng công nghệ cao chưa đồng nghĩa với làm chủ công nghệ cao.

Thành thật để thấy rằng bệnh viện hiện đại chưa đồng nghĩa với y tế tiên tiến.

Thành thật để thấy rằng nhiều tiến sĩ chưa đồng nghĩa với nền khoa học mạnh.

Thành thật để thấy rằng khẩu hiệu không thay thế được thể chế.

Và thành thật để thấy rằng không có con đường tắt cho phát triển.

Từ ảo vọng đến hiện thực là một con đường dài. Con đường đó bắt đầu bằng những việc không hào nhoáng: Dạy học cho tốt, làm khoa học cho nghiêm, quản trị bệnh viện cho sạch và an toàn, xây dữ liệu cho đúng, trọng dụng người có năng lực, và kiên trì trong nhiều năm.

Một quốc gia trưởng thành là quốc gia biết ước mơ, nhưng cũng biết tự kiểm tra chính mình.

Ước mơ giúp chúng ta đi tới. Năng lực thật giúp chúng ta đi đúng hướng.

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

 

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Phát ngôn nhân Lực lượng Tuần tra Bờ biển Philippines Jay Tarriela (thứ hai từ phải sang) tại cuộc họp báo hôm thứ Tư 10/6/2026 công bố phát hiện một số vật thể lớn ở Bãi cạn Scarborough, được cho là do Trung Quốc lắp đặt. Ảnh: South China Morning Post/ EPA

Biển Đông và nỗi lo COC

Chúng ta thấy tâm điểm của căng thẳng Biển Đông mới nhất nằm gần Philippines, nhưng những làn sóng chấn động đã lan rộng khắp nhiều quốc gia xung quanh.

Đặc biệt, với hai sự kiện diễn ra vào cuối tháng 5 và đầu tháng 6 đã tác động vào tình hình Biển Đông rất lớn.

Ảnh minh họa: NTCC

Văn tức là người: Người thật hay người trong đáp án?

Những tranh luận xung quanh đề thi Ngữ văn tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026 thực chất không chỉ là câu chuyện của một kỳ thi. Đằng sau những ý kiến trái chiều là một vấn đề lớn hơn: Giáo dục mong muốn hình thành nên những con người như thế nào?

Tài liệu về chính sách khủng bố nội địa và khủng bố xuyên quốc gia của chế độ Tô Lâm

Đảng Việt Tân nhận định rằng toàn bộ những hành động liệt kê qua đây không phải là những vụ việc rời rạc hay những phản ứng ngẫu nhiên, mà là những mảnh ghép trong một chiến lược khủng bố toàn diện được chế độ Tô Lâm triển khai có tính toán. Mục đích nhằm bịt miệng người dân trong nước, vô hiệu hóa tiếng nói của cộng đồng hải ngoại, và nối dài cánh tay đàn áp của Công An Việt Nam ra khắp thế giới.

Nhà báo Lê Trung Khoa (trái) và LS Nguyễn Văn Đài là 2 diễn giả và cũng là nhân chứng trong buổi vận động Nghị Viện Châu Âu hôm 10/6/2026 vừa qua. Ảnh: Youtube SBTN

Nhà báo Lê Trung Khoa và LS Nguyễn Văn Đài lên tiếng về đàn áp xuyên quốc gia tại Nghị Viện Âu Châu*

Trong hai ngày 9-10/6/2026 tại Nghị Viện Châu Âu (European Parliament – EP), Nhà báo Lê Trung Khoa, Luật sư Nguyễn Văn Đài là các nhân chứng trực tiếp, chương trình sẽ đề cập đến ba trường hợp tiêu biểu liên quan đến hoạt động đàn áp xuyên quốc gia của chính quyền Việt Nam.