Biến Cố Vịnh Bắc Việt: Những Bí Ẩn Trong Vụ Hải Quân Trung Quốc Tàn Sát Ngư Dân Việt Nam

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print
Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

Ba Câu Hỏi Lớn

Vụ Hải Quân Trung Quốc tàn sát ngư dân Việt Nam vào ngày 8 tháng 1, 2005 khi bốn chiếc ghe của họ thả lưới trong “vùng đánh cá chung” [co-fishing area] đang làm xôn xao dư luận trong ngoài nước với những phản ứng và giải thích trái ngược. Đã có khá nhiều cơ quan truyền thông như BBC, Reuters, Thanh Niên Online, AFP, v.v…, và nhiều nhà bình luận thời cuộc lên tiếng kể lại nội vụ, đặc biệt là ở hải ngoại. Qua hệ thống internet và điện thư, nhiều tiếng nói căm phẫn xuất phát từ trong nước.

Thế nhưng đã gần ba tuần qua, có ba câu hỏi lớn mà hiện nay vẫn chưa có câu trả lời!

Về phía Bắc Kinh, mới đây họ đưa ra lời cáo buộc ngược rằng sở dĩ tàu chiến Trung Quốc phải nổ súng bắn vào các ghe đánh cá Việt Nam vì các ngư dân Việt Nam là “hải tặc”. Qua bằng chứng các hình ảnh ghe đánh cá không trang bị vũ khí, cũng như hình dáng và vẻ mặt của những ngư dân hiền lành chất phác, ai cũng có thể thấy rằng sự cáo buộc của Trung Quốc là hoàn toàn bịa đặt và gian dối. Cho dù sự thật theo như họ cáo buộc của Bắc Kinh đi nữa, thì với các chiếc ghe gỗ không trang bị đó, tàu chiến của Trung Quốc chỉ cần bắn dọa rồi bắt giữ các ngư dân. Thế nhưng tàu Hải Quân Trung Cộng đã chạy thẳng đến gần các ghe đánh cá và ngang nhiên nổ súng bắn giết người Việt Nam. Sau đó, bị dư luận quốc tế lên án, họ mới bịa chuyện vì “ngư dân Việt là hải tặc” nên họ phải “khai hỏa để tự vệ”. Trong mấy năm qua, Trung Quốc đang cố vẽ ra hình ảnh của một cường quốc hiền hòa, biết tôn trọng lân bang trong tình hữu nghị, thì hành động vi phạm công pháp quốc tế vừa qua đã làm cho họ mang tiếng là “bọn xâm lăng dã man” [aggressive barbarians] trước dư luận thế giới.

Câu hỏi thứ nhất là: Nguyên do bí ẩn nào khiến Bắc Kinh hành xử bất chính và chấp nhận một liều lĩnh [risk taking] về liên hệ bang giao quốc tế như thế?

Về phía Hà Nội, họ đã giữ sự im lặng khó hiểu ngay những ngày đầu tiên. Vụ Trung Cộng bắn giết ngư dân xảy ra ngày 8-1 mà mãi đến 13-1, Phát Ngôn Nhân Bộ Ngoại Giao Lê Dũng mới lên tiếng một cách yếu ớt, cho qua. Trong khi đó, cùng ngày 13-1 tại Hà Nội, Thủ Tướng Việt Cộng Phan Văn Khải lại tiếp Phó Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Cố Tú Liên, Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội Trung Quốc sang Việt Nam tham dự APPF. Trong buổi tiếp tân này, không những Phan Văn Khải không đề cập gì đến vụ ngư dân Việt Nam bị Hải Quân Trung Quốc tàn sát dã man, mà còn đề nghị rằng “hai bên cần đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác, trên cơ sở phương châm ’16 chữ và 4 tốt’ mà các nhà lãnh đạo cấp cao của hai nước đã đề ra”. Hà Nội dư biết sự im lặng của họ sẽ dấy lên lòng bất mãn và bất tín nhiệm của nhân dân Việt Nam trong nước, vốn đã âm ỉ từ lâu. Đã đành là họ không xem ý dân ra gì, nhưng để cai trị dân lâu dài, họ vẫn luôn luôn cố vẽ ra hình ảnh, “đảng là cơ chế hoàn hão nhất, có sứ mạng bảo vệ đất nước và nhân dân.” Thế nhưng trước sự tố cáo của ngư dân và phẫn uất của toàn dân, họ đã phải giả vờ buộc tội Trung Quốc một cách bối rối và yếu ớt. Đã thế, ngày 22-1, một số sinh viên Việt-nam căm phẫn việc Trung Cộng giết hại ngư phủ Hậu Lộc, tập trung biểu tình trước cổng Đại Sứ Quán Trung Hoa thì bị cảnh sát chống bạo động dùng vòi rồng, xe bọc thép, xe bít bùng bắt bớ, đánh đập bất kể những ai vừa bén mảng đến để tham gia biểu tình. Một số sinh viên vừa chạy xe gắn máy qua hô vài tiếng đả đảo Trung Quốc thì cảnh sát lập tức chận xe, xô té, dùng dùi cui đánh đập, bắt lên xe đến mấy chục người.

Câu hỏi thứ hai là: Nguyên do bí ẩn nào khiến Hà Nội hành xử bất chính, cố gắng khỏa lấp biến cố và chấp nhận sự oán ghét của đồng bào như hiện nay?

Về phía nhân dân trong nước và người Việt hải ngoại, hầu hết lên án Bắc Kinh “hung hăng bạo ngược” và Hà Nội “quá hèn nhát”, im lặng trước hành động giết người của ngoại bang. Ai cũng đòi hỏi Trung Quốc đền bồi tương xứng cho gia đình nạn nhân. Thế nhưng, đã hai tuần qua, chưa hề có một cuộc biểu tình nào tại hải ngoại, nói lên sự phản đối của người dân. Trước sự lên án “cầm chừng” này, Hà Nội có thể dễ dàng vô hiệu hóa sự căm phẫn của dân chúng, vì ai cũng thấy lực lượng của Trung Quốc mạnh gấp trăm lần lực lượng hiện nay của Việt Nam. Do đó một vài ý kiến cho rằng sự im lặng của Hà Nội có vẻ như chỉ thể hiện sự nhẫn nhịn cần thiết cho một “chuyện nhỏ”.

Câu hỏi thứ ba là: Biến cố ngày 8 tháng 1 vừa qua có tầm mức “chuyện nhỏ” như nhiều người lầm tưởng thế không? Việc lên án Việt Cộng là “hèn nhát” như hiện nay có phiến diện và quá nhẹ cho chế độ hay không? Nguyên do bí ẩn nào cho thấy biến cố vừa qua là chỉ dấu của một thất lợi lớn đang xảy ra cho dân tộc Việt Nam?

Vạch Trần Sự Thật

Cũng trong buổi tiếp tân ngày 13-1, Phan Văn Khải khẳng định “Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời và hiện nay, mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước phát triển rất tốt đẹp”. Thế nhưng, từ khi Hiệp Định Vịnh Bắc Việt được phê chuẩn vào ngày 20 tháng 6, 2004, thì đã xảy ra nhiều vụ Hải Quân Trung Quốc bắt giữ ngư dân Việt Nam trong vùng Vịnh Bắc Việt. Đặc biệt, theo Reuters, trong tháng 12/04 Trung Quốc đã bắt giữ các thuyền đánh cá với 80 ngư dân Việt Nam đem về giam ở đảo Hải Nam, cho rằng họ “xâm phạm lãnh hải Trung Quốc trái phép”. Trong khi đó, theo lời khai của các nạn nhân và được Hà Nội xác nhận, thì những ngư dân đã đánh cá hợp pháp trong vùng “đánh cá chung” [The co-fishing area]. Để tìm ra bí ẩn trong vụ này, chúng ta hãy xem hai bức hình:

- Hình 1 là bản đồ phân định ranh giới lãnh hải Việt Trung trong Vịnh Bắc Việt mà hai bên Việt Trung đã thỏa thuận theo hiệp định 25-12-2000 và phê chuẩn ngày 20-6 năm 2004. Trong bản đồ này, vùng đánh cá chung được ấn định một cách kỳ dị, nhưng cho đến nay chưa thấy một nhà bình luận nào nêu thắc mắc hay giải thích về sự lạ lùng này.
- Hình 2 là bản đồ các vùng có nhiều hải sản và khoáng sản [dầu hỏa cùng khi đốt] trong Vịnh Bắc Việt [Tài liệu Selig S Harrison, China Oil and Asia Conflict Ahead?, New York Columbia University Press, USA]. Theo tài liệu này, túi dầu khí – phần có đường vạch xám – ở giữa Vịnh Bắc Việt có nhiều khí [natural gas] hơn là dầu cặn [crude oil]. Số lượng khí đốt nhiều đến nỗi có thể cung cấp năng lượng cho toàn vùng Bắc Việt và đảo Hải Nam mà không cần dùng đến thủy lượng từ các đập nước sông Đà hay vận chuyển dầu từ đất liền ra đảo Hải Nam. Dù vùng này nằm giữa lãnh hải của hai nước, song Trung Cộng đã khai thác dầu khí phía bên lãnh hải của họ từ lâu rồi, và viện cớ túi dầu khí là “tài nguyên của Trung Quốc”, họ tìm mọi cách ngăn cản Việt Nam đặt giàn khoan phía trong lãnh hải Việt Nam. Phần tô đen là vùng hải sản [marine habitat] như tôm, cua, cá, ốc, sò, ngọc trai, v.v…

Đối chiếu hai hình, chúng ta nhận thấy “vùng đánh cá chung” của hình 1 bao gồm trọn vẹn cả toàn vùng phía trên túi dầu hỏa và khí đốt của hình 2. Còn vùng có nhiều hải sản, tôm cá, thì phần lớn nằm ven bờ biển Việt Nam từ Thanh Hóa lên Móng Cáy, nơi các cửa sông chảy ra biển mang theo thực phẩm dinh dưỡng cho các loài tôm cá. Phần còn lại ở ngoài khơi Thanh Hoá thì nằm trong vùng dầu khí, nơi có phù sa sông Mã chảy ra, và nằm về phía hải phận Việt Nam. Các ngư dân Việt Nam vừa bị Hải Quân Trung Cộng bắn giết là dân ở vùng Hậu Lộc [điểm A], nằm ngay cửa sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa. Điểm B là nơi họ bị Trung Cộng tấn công và đuổi bắt từ đó vào gần bờ [điểm A].

Về phía hải phận Trung Quốc từ đảo Hải Nam trở ra, tôm cá và hải sản không trù phú lắm, bởi vì phù sa màu mỡ và các chất bổ dưỡng cho tôm cá từ các cửa sông Mã, sông Đáy [Nam Định], và các nhánh lưu vực sông Hồng [Thái Bình] chảy ra không lan tới bên đó. Như vậy, chỉ xét về phương diện hải sản thôi, thì Trung Cộng cũng đã gian lận trắng trợn khi họ yêu cầu Việt Cộng ký hiệp định “vùng đánh cá chung” để được quyền đánh cá trong khu trù mật gần bờ Việt Nam trong khi bờ Hải Nam của họ chẳng có bao nhiêu tôm cá! Thế nhưng vụ gian lận này cũng tầm thường, chỉ là bề mặt nhằm mục đích khỏa lấp một bí ẩn trầm trọng hơn mà thôi. Sự thật là Trung Quốc chẳng thèm đánh cá đến nỗi phải tàn sát ngư dân Việt Nam vô tội.

Tất cả những vụ Trung Quốc bắt bớ, bắn giết ngư dân Việt Nam trong hai tháng qua đều xảy ra trong vùng dầu khí, về phía bên trong lãnh hải Việt Nam, mà hiệp định 25-12-2000 đặt tên là “vùng đánh cá chung”. Chưa bao giờ có sự ngược ngạo đó: Khi chưa ký hiệp định thì Trung Cộng lấn lướt nhẹ, đến khi ký hiệp định rồi thì họ lấn lướt dữ dội hơn!

Bí ẩn nằm ở chỗ: Song song với bản Hiệp Định về vùng đánh cá chung, một khế ước ngầm về khai thác dầu khí đã được ký kết giữa hai chủ tịch của hai đảng Trung Cộng và Việt Cộng. Theo hiệp định về “nghề cá” thì vùng đánh cá chung có nghĩa là ngư dân cả hai bên đều được quyền đánh cá trong vùng này. Trung Quốc muốn ấn định vùng “đánh cá chung” một cách bình thường như thế để có quyền đi vào hải phận Việt Nam và kiểm soát toàn vùng này. Nhưng theo khế ước ngầm giữa hai đảng, thì đây là vùng độc quyền khai thác dầu khí của Trung Quốc, với máy móc, dụng cụ, nhân công đều của đảng Trung Cộng. Dầu khí được đưa về xưởng lọc tại phía nam đảo Hải Nam, nơi có căn cứ hải quân bảo vệ. Đảng Việt Cộng được hứa trả trước một số tiền khổng lồ lên đến 10 tỷ đô, chia làm 5 năm, kể từ tháng 6 năm 2004, cộng thêm 25% lợi tức của sản xuất hàng năm mà không phải làm gì cả, ngoại trừ giữ im lặng, để yên cho Trung Cộng lập giàn khoan dầu khí phía trong lãnh hải Việt Nam và ngăn cản dân chúng phản đối Trung Quốc khi có biến sự xảy ra. Việt Cộng ở vào cái thế không thể tiết lộ cho dân chúng biết bản khế ước ngầm về dầu khí vì khế ước ngầm mang lại nguồn lợi huyết mạch cho đảng chứ không phải cho dân, đồng thời không thể phản đối mạnh mẽ sự “xâm lấn tàn bạo” của Trung Cộng, vì họ đã đồng ý cho Trung Cộng sử dụng “biện pháp mạnh” này để khiến cho ngư dân Việt sợ hãi mà tránh xa. Nếu trái quy định đó thì Trung Cộng sẽ phổ biến bản khế ước như họ đã từng bạch hóa lá thư nhượng biển của Phạm Văn Đồng gởi lén cho Chu Ân Lai vào năm 1958 mà hiện nay ai cũng biết. Nếu công bố cho dân biết thì lãnh đạo đảng sẽ mang tội phản quốc để thủ lợi. Mặt khác họ cũng sẽ không bao giờ có thể tự khai thác vùng tài nguyên năng lượng này, vì vừa không có máy móc và khả năng, lại vừa chắc chắn sẽ bị Trung Quốc quấy rối.

Hiện nay, Trung Cộng bắt đầu tiến hành bản khế ước ngầm giữa hai đảng, chuẩn bị đặt giàn khoan phía bên lãnh hải Việt Nam, tại vùng dầu khí phình ra về phía tây, tức là ngoài khơi hai tỉnh Thanh Hóa và Nam Định. Vùng này có tầng đất phía dưới đáy biển tương đối mỏng, khoan dễ và không tốn kém, lại chứa nhiều khí đốt nhất. Mặt khác, theo kế hoạch của bộ Hải Quân Trung Quốc, giàn khoan này cũng có thể biến thành một vị trí chiến lược của Hải Quân Trung Quốc nhằm tê liệt hóa mọi kháng cự của Việt Nam, không những về hải lực mà còn về phương tiện phòng thủ, vì từ điểm này, thủ đô Hà Nội sẽ nằm trong tầm bắn của Hỏa Tiễn Trung Cộng. Đến khi hữu sự, Bắc Kinh không cần ra tay, mà Hà Nội vẫn phải đầu hàng. Đây là chiến lược thành văn của Trung Quốc, do bộ Hải Quân Hoa Kỳ nghiên cứu và phúc trình từ giữa thập niên 1990 Trong bài tham luận “Nghĩa Vụ Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam”, phổ biến vào năm 2001, người viết có đề cập đến bản phúc trình của Hải Quân Thiếu Tá Tình Báo Michael Studeman cho Bội Hải Quân Hoa Kỳ, trong đó có ghi lại chủ trương căn bản của People Liberation Army’s Navy như sau: “The only way to give our maritime defense a solid basis is to intensify our naval buildup and upgrade our naval buildup defense capability. We cannot resolve problems with political or diplomatic measures until we have great naval strength, and only then will it be possible to overcome our enemies without engaging in battles. If intimidation fails to achieve any effects, we would then be able to actually deal an effective blow.” Hiện nay TC đã hoàn tất phi trường cho chiến đấu cơ phản lực tại Hoàng Sa và Trường Sa. Bằng vào sự kiện này, nếu sau này chiếc cầu tàu tại giàn khoan dầu trong Vịnh Bắc Việt trở thành một pháo đài tấn công Hà Nội, thì chỉ là một tiến trình tất yếu.

Để thiết lập giàn khoan và xây dựng cứ điểm chiến lược này, Trung Cộng phải cho tàu Hải Quân tuần tiễu, ngăn cấm các ngư dân lai vãng vì ngại dân sẽ hô hoán lên sự xâm phạm lãnh thổ VN. Trong khi đó thì Hải Quân Việt Cộng được lệnh tránh tuần tiễu, bỏ ngỏ hoàn toàn vùng này, vì lãnh đạo đảng Việt Cộng đã toa rập thỏa thuận cho Trung Cộng toàn quyền kiểm soát. Chỉ trong tháng 12 mà Hải Quân Trung Cộng đã bắt giữ 80 ngư dân; rồi đầu tháng 1 lại mở cuộc tàn sát 4 chiếc ghe đánh cá có treo cờ đỏ sao vàng, gây tử thương 9 người, trọng thương 7 người, bắt giữ 8 người ngư dân thuộc tỉnh Thanh Hoá cùng chiếc ghe của họ. Đó chính là sự áp dụng chủ trương “If intimidation fails to achieve any effects, we would then be able to actually deal an effective blow.” Làm như thế, Trung Cộng muốn gây nên nỗi sợ hãi trong lòng ngư dân để họ không dám bén mảng tới nữa, nhất là khi dân thấy đảng CSVN làm lơ trước những thiệt hại nhân mạng của họ mà chỉ lên tiếng lấy lệ.

Xuyên qua biến cố thê thảm này, lãnh đạo đảng Việt Cộng đã hiện nguyên hình là một tập đoàn bất lương và tham lam, đem tài sản quốc gia để bán cho Trung Quốc hầu thủ lợi riêng, chứ không chỉ là tập đoàn “hèn nhát, khiếp nhược” như nhiều người lầm tưởng. Lá cờ Đỏ của đảng Việt Cộng, một lần nữa, chỉ biểu hiệu cho sự nô lệ, thối nát, chết chóc, và nhục nhã, đã và sẽ không bao giờ trở thành biểu tượng của danh dự dân tộc Việt Nam.

Giải Quyết Vấn Nạn

Tình trạng khổ đau của ngư dân Hậu Lộc là một trường hợp điển hình của đại họa mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu, rồi đây sẽ còn tiếp diễn bởi chính sách bành trướng Đại Trung Quốc của đảng Trung Cộng.

Trước hiểm họa này người Việt có lương tri và thiết tha với vận mệnh đất nước phải làm sao?

Câu trả lời rất dễ tìm thấy nhưng lại rất khó thực hiện: Toàn dân đoàn kết một lòng đứng lên lật đổ chế độ CSVN để thay thế bằng một chế độ biết lo cho dân, vì dân mà tồn tại, vì quyền lợi của đất nước mà tranh đấu. Để thực hiện điều này, mỗi thành phần dân tộc cần ý thức rõ vị thế và hoàn cảnh của mình trên căn bản toàn diện đấu tranh. Không có một thành phần nào có thể tự cho mình có quyền hơn thành phần khác trong việc thi hành nghĩa vụ cao quý này:

- Thành phần “Quân Công Cán Chính” của thời Việt Nam Cộng Hòa sẽ hữu hiệu hơn trong việc vận động được toàn dân cùng tranh đấu, nếu họ thường xuyên nhắc nhở nhau bớt đi lòng nghi kỵ, tránh chụp mũ Việt Cộng cho chính những người cùng chiến tuyến hay những người trưởng thành ở miền Bắc Việt Nam trước năm 1975. Những hành động mang tính chia rẽ đó đã và đang làm suy yếu tiềm lực đấu tranh của dân tộc, góp phần vào việc gián tiếp giúp cho chế độ Hà Nội tồn tại lâu hơn. Do đó, họ nên can đảm lột bỏ những thành kiến ấy để cùng mọi thành phần khác hợp lực đấu tranh cứu nước. Họ cũng cần có lòng bao dung đối với những cán bộ cộng sản biết phản tỉnh và muốn đứng về phía đại khối dân tộc để giải quyết vấn nạn chung của đất nước.
- Thành phần “Thanh Thiếu Niên” của thời hậu chiến tranh Việt Nam cần ý thức rằng trên bước đường dấn thân đấu tranh cứu nước, họ rất cần học hỏi những kinh nghiệm quý báu mà cha anh họ để lại, ngõ hầu giảm thiểu tối đa những lầm lỗi gây nên ngộ nhận giữa những người cùng chung lý tưởng.
- Thành phần “Trí Thức” trong nước cần ý thức rằng tổ quốc rất cần đến dũng khí và trí tuệ của tầng lớp sĩ phu, làm thế nào để những thay đổi chính quyền sẽ không mang lại chết chóc và xáo trộn xã hội. Họ cần biểu thị sự can đảm, không sợ hãi trước bạo lực, để làm gương cho các thành phần khác.
- Thành phần “Công – Nông – Thương” trong và ngoài nước cần ý thức rằng dân tộc Việt Nam sẽ không thể tồn tại với thời gian, nếu không có sự hy sinh và hỗ trợ của thành phần mệnh danh là “hạ tầng cơ sở” của xã hội. Sức mạnh của cuộc cách mạng tự do dân chủ phải được nuôi dưỡng bởi chính những người khao khát tự do dân chủ.
- Thành phần “Bộ Đội Nhân Dân” của chế độ cần ý thức rằng quyền lợi tối thượng của dân tộc phải được đặt lên trên quyền lợi đảng phái và cá nhân. Lịch sử sẽ vinh danh họ nếu họ có can đảm đứng về phía dân chúng, khi nhân dân đứng lên đòi thay thế chế độ. Họ sẽ dùng sức mạnh quân sự để can thiệp và vô hiệu hóa sự đàn áp nhân dân của công an theo lệnh lãnh đạo đảng, và giữ vững an ninh quốc phòng, ngăn ngừa sự tràn lấn của ngoại bang trong thời gian biến động.
- Thành phần “Tu Sĩ” trong và ngoài nước cần ý thức rằng đạo không màng đến hưng suy của đất nước là đạo diệt vong. Trong cơn quốc biến, bất cứ ai là công dân cũng phải có trách nhiệm với núi sông. Họ cần sử dụng đại hùng tâm, bi trí dũng, và lòng bác ái của kẻ tu hành để hướng dẫn tín đồ cứu nước trước khi đi tìm nơi tu hành yên đạo. Thái độ “bất nhập thế” trong lúc này chỉ là sự biện minh cho tinh thần cầu an, thay vì tinh thần vô úy.

Vụ Hải Quân Trung Quốc tàn sát ngư dân Việt Nam ngày 8 tháng 1 vừa qua là một thảm trạng, nhưng nhìn qua lăng kính lạc quan và hy vọng, đây lại là một cơ hội hiếm quý để mọi thành phần dân tộc dứt khoát thể hiện lòng bao dung, gạt bỏ mọi tỵ hiềm, nghi kỵ, ngõ hầu đoàn kết trong liên minh các dân tộc, tích cực tiến hành công cuộc toàn diện đấu tranh cho Tự Do và Dân Chủ tại Việt Nam.

KS Nguyễn Đình Sài

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

BÀI MỚI

Quang cảnh gian hàng Tuyên vận của Đảng bộ Việt Tân Adelaide tại Hội Tết Adelaide, Nam Úc

Bản tin Việt Tân – Tuần lễ 19 – 25/2/2024

Nội dung:

– Đảng bộ Việt Tân Nam Đức tham dự Hội Xuân tại Nuremberg, Nam Đức;
– Vận động chữ ký cho Kiến nghị 50 Năm Hoàng Sa tại Stuttgart, Nam Đức;
– Hội Xuân tại Bremen, Bắc Đức lấy chủ đề “50 Năm Hướng Về Hoàng Sa”;
– Gian hàng Tuyên vận Việt Tân tại Hội chợ Tết Tây Úc;
– Đảng bộ Việt Tân Melbourne tham dự Hội chợ Tết Cộng Đồng 2024;
– Gian hàng Tuyên vận Việt Tân tại Lễ hội Tết Adelaide, Nam Úc;
– Đảng bộ Toronto, Canada gói bánh chưng hỗ trợ Tù nhân Lương tâm tại Việt Nam;
– Đảng bộ Việt Tân Houston tham dự Hội Tết Cộng Đồng;
– Nhận định của Đảng Việt Tân về cái chết của nhà đối kháng Nga Alexei Navalny.

Dân Biểu Young Kim (giữa) gặp gỡ đại diện một số tổ chức trong cộng đồng Việt Nam tại Nam California hôm thứ Tư, 21/2/2024. Ảnh: Đỗ Dzũng/Người Việt

Dân biểu Young Kim: ‘CSVN liên tục đòi Mỹ công nhận Việt Nam là kinh tế thị trường’

“Trong chuyến đi Việt Nam vừa rồi, đi đâu tôi cũng bị giới chức Việt Nam đòi Mỹ công nhận là nền kinh tế thị trường,” Dân Biểu Liên Bang Young Kim (Cộng Hòa), đại diện Địa Hạt 40 của California, nói với đại diện các tổ chức cộng đồng Việt Nam vùng Nam California trong một buổi gặp gỡ tại văn phòng địa hạt của bà ở Anaheim hôm Thứ Tư, 21 Tháng Hai. “Tôi nói rằng, là dân biểu Quốc Hội, chúng tôi không có thẩm quyền này, mà nó thuộc Bộ Thương Mại Hoa Kỳ.”

Bà nói thêm: “Tuy nhiên, tôi cũng nói với họ rằng, để được như vậy, quý vị phải tôn trọng nhân quyền, thả hết tù nhân chính trị, tôn trọng tự do tôn giáo, tự do hội họp, và tôn trọng quyền lao động của người dân.”

ACAT-Pháp, Freedom House cùng Việt Tân đệ trình báo cáo lên Ủy Ban Nhân Quyền LHQ v/v Chính phủ VN vi phạm các điều khoản Công ước ICCPR đã ký kết, trước kỳ họp thứ 140 của Ủy Ban

ACAT-Pháp, Freedom House cùng Việt Tân đệ trình báo cáo lên Ủy Ban Nhân Quyền LHQ v/v Chính phủ VN vi phạm các điều khoản Công ước ICCPR đã ký kết, trước kỳ họp thứ 140 của Ủy Ban

Bản phúc trình này được gởi đến Ủy Ban Nhân Quyền LHQ (UN Human Rights Committee – UNHRC) về Việt Nam nhấn mạnh việc chính phủ Việt Nam vi phạm các điều khoản của Bản Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR) trước khi danh sách các vấn đề được chấp thuận cho thảo luận trong phiên họp thứ 140 của Ủy Ban.

ACAT-France, Freedom House và Việt Tân đề xuất các biện pháp sau đây cho Việt Nam để thực hiện các nghĩa vụ theo Công ước ICCPR ký kết tham gia hơn 40 năm trước (1982)…

Ảnh minh họa: Blog Tuấn Khanh

Gia đình các TNLT mệt mỏi vì liên tục bị sách nhiễu

Từ trước Tết Nguyên đán, nhiều gia đình Tù nhân lương tâm (TNLT) cho biết họ cảm thấy lo ngại trong đời sống bình thường vì dường như chính quyền địa phương đang có ý gây khó sinh hoạt của họ.

… Các chính sách gây khó, sách nhiễu các TNLT đang xuất hiện đồng bộ từ Bắc chí Nam, khiến cho giới theo dõi nhân quyền cảm thấy lo ngại, và cho rằng đây là một khuynh hướng mới nhằm trấn áp từ bên ngoài, tạo áp lực không để tồn tại chuyện các gia đình lên tiếng, và cũng là một sức ép với những người đang chịu tù đày ở bên trong.