Trung Điền
Chỉ trong một thời gian ngắn, dưới thời Tô Lâm, 19 nghị quyết quan trọng đã được ban hành với hai thông điệp tưởng như đi về hai hướng khác nhau.
Một bên là Nghị quyết 22 về Chiến lược An ninh quốc gia, đặt việc bảo vệ đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa vào mục tiêu an ninh; Nghị quyết 25 về Chiến lược công tác tư tưởng, chủ trương chuyển từ quản lý thông tin sang chủ động “dẫn dắt nhận thức xã hội”; cùng với việc tiếp tục siết chặt kỷ luật, kiểm tra và bảo vệ nền tảng tư tưởng.
Bên kia lại là Nghị quyết 24, yêu cầu cán bộ phải “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm,” chuyển từ tư duy “quản lý để không xảy ra sai sót” sang “quản trị để tạo ra kết quả.” Cùng lúc, Nghị quyết 23 về người Việt Nam ở nước ngoài lại muốn huy động trí tuệ, công nghệ, kinh nghiệm, vốn và mạng lưới quốc tế của hàng triệu người Việt đang sống trong những xã hội cởi mở hơn. Chính giới chức Việt Nam gọi cộng đồng này là một “nguồn lực chiến lược quan trọng” của đất nước.
Nhìn từng nghị quyết riêng lẻ, mỗi văn kiện đều có logic của nó. Nhưng đặt chúng cạnh nhau, một nghịch lý lớn hiện ra cho thấy ông Tô Lâm đang vừa xây thêm hàng rào bảo vệ chế độ, vừa đòi hỏi những con người bên trong hàng rào phải sáng tạo, chủ động, dám nghĩ và dám nói.
Vấn đề không phải là hai mục tiêu ấy hoàn toàn không thể cùng tồn tại. Vấn đề là khi logic an ninh chế độ được đặt cao hơn quyền được làm sai, quyền phản biện và quyền nói ra sự thật, lời kêu gọi “dám nghĩ, dám làm” rất dễ trở thành một khẩu hiệu tự mâu thuẫn.
Đó mới chính là cái bẫy an ninh của thời Tô Lâm.
Nghị quyết 24 rất đáng chú ý vì chính Bộ Chính trị đã nhận ra căn bệnh của bộ máy: Cán bộ né tránh, sợ trách nhiệm, không muốn nhận việc khó. Thậm chí khi giải thích nghị quyết, Nguyễn Duy Ngọc, Trưởng ban Tổ chức Trung ương thừa nhận một nghịch lý rẳng, người nhận việc khó và chấp nhận rủi ro đôi khi lại chịu bất lợi hơn người chọn an toàn; vì vậy phải chuyển từ “quản lý để không xảy ra sai sót” sang “quản trị để tạo ra kết quả.”
Chẩn đoán của ông Nguyễn Duy Ngọc không sai; nhưng câu hỏi khó hơn nằm phía sau là tại sao cán bộ lại sợ?
Nếu chỉ cho rằng họ thiếu tinh thần trách nhiệm, giải pháp sẽ là giáo dục họ phải “dám.” Nhưng nếu họ sợ vì chính cấu trúc quyền lực khiến ranh giới giữa sáng tạo và sai phạm không đủ an toàn, giữa phản biện và sai lệch quan điểm không đủ rõ, giữa nói thật và gây phiền toái cho cấp trên quá mong manh, thì không một nghị quyết nào có thể ra lệnh cho họ hết sợ.
Con người không hành động theo khẩu hiệu mà thường là hành động theo hệ thống thưởng-phạt mà họ thực sự nhìn thấy. Một cán bộ có thể được yêu cầu “dám nghĩ, dám làm,” nhưng nếu anh ta biết rằng một quyết định thất bại có thể bị xem xét lại nhiều năm sau, trong khi người không làm gì gần như không chịu rủi ro, lựa chọn hợp lý nhất vẫn là thận trọng.
Càng nhiều quyền lực tập trung ở trên, cấp dưới càng học cách nhìn lên trên trước khi nhìn vào thực tế. Cuối cùng, “dám nghĩ” biến thành dám nghĩ trong phạm vi đã được phép nghĩ.
“Dám nói” trở thành dám nói những điều hệ thống sẵn sàng nghe. Và “dám làm” trở thành dám làm khi đã biết chắc rằng cấp trên đồng ý. Đó không còn là sáng tạo. Đó là sự phục tùng chủ động. Và mâu thuẫn càng rõ hơn khi đặt Nghị quyết 24 cạnh Nghị quyết 25.
Nghị quyết 25 xác định công tác tư tưởng là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của đảng và chủ trương chuyển trọng tâm từ “quản lý thông tin” sang “dẫn dắt nhận thức xã hội.” Vấn đề là nằm ở chữ “dẫn dắt.”
Trong một xã hội hiện đại, nhà nước đương nhiên có quyền truyền đạt chính sách và bảo vệ mình trước thông tin giả. Nhưng nếu nhà nước đồng thời giữ quyền quyết định đâu là tư tưởng đúng, đâu là nhận thức phải được định hướng và đâu là thông tin có thể gây nguy hại cho chế độ, thì không gian của tư duy độc lập sẽ tự nhiên bị thu hẹp.
Một nhà khoa học không thể thực sự sáng tạo nếu trước mỗi kết luận phải hỏi kết luận đó có phù hợp với định hướng tư tưởng hay không. Một nhà kinh tế không thể giúp chính quyền sửa sai nếu việc công khai chỉ ra thất bại bị xem là gây mất niềm tin. Một nhà báo không thể trở thành hệ thống báo động của xã hội nếu chức năng quan trọng hơn của báo chí là duy trì đồng thuận.
Và một cán bộ khó “dám nói” nếu chính hệ thống đang dành nguồn lực ngày càng lớn để định hình điều gì xã hội nên nghĩ. Đây chính là nghịch lý sâu hơn cả chuyện công an hay tuyên giáo là việc Tô Lâm muốn có một bộ máy sản xuất sáng kiến nhưng đồng thời muốn duy trì một hệ thống sản xuất đồng thuận. Và Nghị quyết 22 làm cho mâu thuẫn ấy hiện ra rõ hơn.
Không có gì bất thường khi một quốc gia xây dựng chiến lược an ninh. Việt Nam đứng trước những thách thức thực sự về Biển Đông, an ninh mạng, gián điệp, tội phạm xuyên quốc gia, khủng hoảng chuỗi cung ứng và cạnh tranh Mỹ–Trung. Nhưng nội dung chính thức của Nghị quyết 22 không dừng ở bảo vệ lãnh thổ hay công dân. Mục tiêu của nghị quyết bao gồm cả bảo vệ đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời bảo vệ, củng cố nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo, cầm quyền của đảng.
Đây chính là điểm cần phân biệt giữa an ninh quốc gia và an ninh chế độ.
Hai điều có thể trùng nhau trong nhiều trường hợp, nhưng chúng không phải lúc nào cũng giống nhau. Một người phản đối chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông có thể đang bảo vệ lợi ích quốc gia. Một người đặt câu hỏi về hiệu quả của một chính sách kinh tế có thể đang giúp nhà nước tránh sai lầm.
Một trí thức đề nghị cải cách thể chế không nhất thiết đe dọa đất nước. Nhưng khi sự an toàn của một đảng cầm quyền được đặt trong cùng một khung an ninh với sự an toàn của quốc gia, ranh giới ấy rất dễ trở nên mờ nhạt. Đó là nơi phản biện có nguy cơ bị nhìn như bất ổn, khác biệt bị nhìn như lệch hướng, và quan hệ quốc tế có thể bị nhìn qua lăng kính an ninh.
Nghịch lý càng thấy rõ hơn ở Nghị quyết 23. Ông Tô Lâm muốn thu hút người Việt ở nước ngoài về đóng góp công nghệ, vốn, tri thức, mạng lưới và kinh nghiệm quản trị. Chính sách chính thức coi họ là một nguồn lực chiến lược. Nhưng điều gì làm nguồn lực ấy có giá trị?
Không chỉ vì họ sống ở nước ngoài, mà vì nhiều người trong số họ đã trưởng thành trong những môi trường nơi đại học tương đối tự do, doanh nghiệp được quyền thất bại, chuyên gia có thể tranh luận với chính quyền và thông tin được lưu chuyển rộng hơn. Việt Nam muốn nhập khẩu kết quả của môi trường khai phóng, nhưng lại dè dặt với chính những điều kiện đã tạo ra kết quả ấy.
Muốn mang tri thức của Silicon Valley về Việt Nam nhưng không dễ dàng chấp nhận văn hóa đặt câu hỏi của Silicon Valley. Muốn chuyên gia quốc tế nói cho mình biết phải đổi mới thế nào nhưng lại khó chấp nhận khi câu trả lời chạm đến giới hạn của thể chế. Đó là một mâu thuẫn không thể giải quyết chỉ bằng ưu đãi visa, nhà ở hay lương bổng. Hậu quả nghiêm trọng nhất của nhà nước an ninh không phải chỉ là người dân sợ. Nguy hiểm hơn là nhà nước mất khả năng nghe sự thật. Bởi vì trong hệ thống chính trị khi cấp trên càng có khả năng trừng phạt, cấp dưới càng có động cơ lọc thông tin để chỉ giữ lại những gì an toàn nhất của thực tế.
Và đây là nghịch lý nan giải đối với một hệ thống được thiết kế để lãnh đạo biết và kiểm soát nhiều hơn cuối cùng khiến cho lãnh đạo biết ít hơn về thực tế.
Rốt cuộc, ông Tô Lâm muốn đổi mới kinh tế mà không làm thay đổi nền tảng chính trị; muốn giải phóng sáng kiến nhưng không giải phóng hoàn toàn tư duy; muốn cán bộ dám quyết định nhưng quyền lực vẫn phải tuyệt đối an toàn; muốn trí thức toàn cầu nhưng tư tưởng phải nằm trong ranh giới được xác lập. Nói cách khác, Tô Lâm muốn mở cánh cửa phát triển nhưng đồng thời dựng hàng rào quanh quyền lực.
Trong một thời gian, hai điều ấy vẫn có thể cùng tồn tại. Việt Nam vẫn có thể tăng trưởng nhờ FDI, hạ tầng, xuất khẩu và nhờ lao động rẻ. Nhưng càng tiến gần tới một nền kinh tế tri thức, mâu thuẫn càng lớn. Bởi đến cuối cùng, điều quyết định một quốc gia có vượt được giới hạn phát triển hay không không phải là có bao nhiêu nghị quyết yêu cầu con người sáng tạo, mà là con người có thực sự được quyền suy nghĩ khác hay không.
Đó là cái bẫy an ninh của thời Tô Lâm: Muốn phát triển phải cần những con người độc lập. Nhưng càng xuất hiện nhiều con người độc lập, một hệ thống đặt an ninh chế độ lên hàng đầu càng cảm thấy cần kiểm soát họ. Càng kiểm soát, sáng kiến càng co lại; càng thiếu sáng kiến, tăng trưởng càng khó chuyển thành phát triển.
Và nếu nghịch lý ấy không được giải quyết, điều có thể chặn “kỷ nguyên vươn mình” của Tô Lâm, không phải là thiếu vốn, thiếu công nghệ hay thiếu nhân tài mà chính là nỗi sợ đối với những con người dám nhìn thấy và nói ra sự thật.
Trung Điền
The post Cái bẫy an ninh: Tô Lâm và nghịch lý của một nhà nước sợ sự thật appeared first on Việt Tân.





